Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST

Ngày 14/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Hồng Tuyên – Giám đốc xí nghiệp vận tải biển Thái Thụy.

Bà Vũ Thị Thúy – Phó hiệu trưởng Trường tiểu học thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tình - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 25/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Công T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 16/8/2008

Nơi cư trú: Thôn M, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Số căn cước công dân: [...].

Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 10/12.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.

Con ông Nguyễn Công T1, sinh năm 1973 và bà Hoàng Thị T2, sinh năm 1978.

Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/01/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam tỉnh Thái Bình. Trích xuất có mặt tại phiên tòa.

- Đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Nguyễn Công T1, sinh năm 1973 và bà Hoàng Thị T2, sinh năm 1978 – Địa chỉ: Thôn M, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đỗ Thị D, sinh năm 1986 – Trợ giúp viên – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (có mặt)

- Đại diện Đoàn thanh niên xã D: Bà Đoàn Thị T3, sinh năm 1989 - Bí thư đoàn xã (có mặt).

* Bị hại: Bà Đàm Thị N, sinh năm 1970

Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. (có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 ngày 30/12/2024, Nguyễn Công T đi bộ từ nhà đến thôn B, xã T, huyện T. Khi đi qua nhà bà Đàm Thị N thấy cổng và cửa khóa, không có ai ở nhà nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T trèo qua tường phía bên trái cổng để vào sân, tìm chìa khoá để mở cửa nhà nhưng không thấy. T dùng thanh sắt dài khoảng 40cm, đường kính khoảng 1,5cm nhặt được trên đường đi, dùng để cạy phá ổ khóa cửa để vào trong nhà. Thấy trên bàn học kê ở phòng khách có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, màn hình đã bị vỡ, không có sim, trị giá 850.000 đồng, T lấy cho vào túi quần đang mặc rồi đi vào trong phòng ngủ lục tìm tài sản trong tủ gỗ. Thấy trên nóc tủ gỗ có một túi nilon màu trắng, bên trong có tiền, T lấy cho vào túi quần đang mặc rồi theo lối cũ ra ngoài. Khi về nhà, T đếm số tiền trộm cắp được là 3.830.000 đồng và đã chi tiêu hết số tiền này.

Ngày 01/01/2025, sau khi phát hiện mất tài sản, bà Đàm Thị N đã trình báo Công an xã T. Qua rà soát camera, Công an xã T triệu tập Nguyễn Công T lên làm việc. T thừa nhận việc trộm cắp tài sản và giao nộp chiếc điện thoại đã trộm cắp của bà N.

Tại kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 08/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: “01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, màn hình đã bị vỡ, không có sim, trị giá 850.000 đồng”.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Cáo trạng số 33/CT-VKSQP ngày 14/02/2025 đã truy tố bị cáo Nguyễn Công T về tội: “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Công T từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Ngoài ra, còn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về trách nhiệm dân sự, xử lý về vật chứng và án phí của vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Công T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Tại phần tranh luận: Bị cáo Nguyễn Công T và đại diện hợp pháp cho bị cáo không có ý kiến tranh luận với nhau và với đại diện Viện kiểm sát.

Đại diện hợp pháp cho bị hại trình bày: Bị cáo T phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi cũng một phần do trách nhiệm của gia đình đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của pháp luật giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày bài bào chữa: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy về hành vi phạm tội và tội danh đã truy tố. Về hình phạt: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Công T thành khẩn khai báo, đại diện hợp pháp của bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, ông ngoại bị cáo là người có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt thấp nhất.

Đại diện Đoàn thanh niên xã có ý kiến: Bị cáo T phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi do nhận thức pháp luật còn hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của pháp luật giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Công T nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Công T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã mô tả; Phù hợp với Đơn trình báo, lời khai của người bị hại bà Đàm Thị N; Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 02/01/2025, tại nhà bà Đàm Thị N ở thôn B, xã T; Kết luận định giá tài sản số

02/KL-HĐĐGTS ngày 08/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T; Biên bản do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập về việc bị can Nguyễn Công T xác nhận là người xuất hiện trong đoạn video thu giữ trong camera của gia đình bà Đàm Thị N, có sự chứng kiến của ông Nguyễn Công T1, bố đẻ của bị cáo cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[2.1] Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 30/12/2024, Nguyễn Công T trèo tường, cậy phá khóa cửa vào trong nhà bà Đàm Thị N ở thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng, trị giá 850.000 đồng và số tiền 3.830.000 đồng (VNĐ). Tổng tài sản và tiền bị cáo chiếm đoạt trị giá là 4.680.000 đồng. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 16 tuổi 4 tháng 16 ngày. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Công T đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1.Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...”.

[2.2] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ: Đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, gấy hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân, gây mất an ninh trật tự trị án xã hội.

[2.3] Khi xem xét, cân nhắc áp dụng hình phạt đối với bị cáo, thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Về các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Công T thành khẩn khai báo, đại diện hợp pháp của bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, ông ngoại bị cáo là người có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, trước đó bị cáo đã bị khởi tố, điều tra về hành vi gây rối trật tự công cộng nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội, hành vi của bị cáo là coi thường pháp luật, vì vậy cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời là bài học răn

đe và phòng ngừa tội phạm chung như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2.5] Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự: “5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Bị cáo là người chưa thành niên, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Bà Đàm Thị N đã được Cơ quan điều tra trả lại điện thoại di động và được gia đình bị cáo bồi thường số tiền 3.830.000 đồng. Bà N không yêu cầu bồi thường thêm gì khác (không yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với ổ khóa cửa bị cạy phá).

[3] Vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, màn hình đã bị vỡ, không có sim. Ngày 16/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xử lý, trả lại cho bà Đàm Thị N.

- Đối với thanh sắt bị cáo sử dụng để cậy phá khóa cửa của nhà bà N, bị cáo khai đã vứt bỏ trên đường đi về nhà, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thấy.

[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Công T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Công T, đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng pháp luật và hình phạt:
    1. Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 98, Điều 101; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Công T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 03/01/2025.
    2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc đại diện hợp pháp cho bị cáo đã bồi thường cho bà Đàm Thị N số tiền 3.830.000 đồng. Bà N đã nhận đủ và không yêu cầu bồi thường gì khác.
  4. Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận việc ngày 16/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại bà Đàm Thị N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, màn hình đã bị vỡ, không có sim.

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Công T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Nguyễn Công T, đại diện hợp pháp cho bị cáo và người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/3/2025). Đối với bị hại bà Đàm Thị N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Thái Thụy;
  • - Phòng CSTHAHS và HTTP Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Bị cáo; Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Văn Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 27/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Công T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger