Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST

Ngày 11 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Biên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Hải, giáo viên trường THCS xã Cao Xá, huyện Tân Yên.
  2. Bà Giáp Thị Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Vân Lý, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Văn Đ, sinh ngày 17/11/2007 tại huyện T, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú:

Thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 11/12; con ông Trần Văn G và bà Nguyễn Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không có, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1984, nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Thân Văn D, Trợ giúp viên Trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B; địa chỉ: Số F, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, có mặt.

- Đại diện Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang tham gia cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị X, Bí thư Đoàn xã C, có mặt.

- Đại diện Trường THPT T1 số 1 tham gia cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị T, giáo viên chủ nhiệm lớp 12A13 Trường THPT T1, có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1960, nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Bình A, sinh ngày 17/07/2007, nơi cư trú: Thôn X, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1967, nơi cư trú: Thôn X, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 04/12/2024, bà Nguyễn Thị L trình báo Cơ quan điều tra Công an huyện T về việc bà bị kẻ gian trộm cắp số tiền 100.000.000 đồng để trong tủ tại cửa hàng bán đồ ăn sáng tại tổ dân phố N, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, thời điểm mất tiền khoảng 21 giờ 30 phút ngày 19/11/2024. Bà Nguyễn Thị L trình bày và giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an huyện T 03 tờ giấy A4 có chứa nội dung tin nhắn giữa bà L và Trần Văn Đ về việc bà L đòi lại số tiền Đ đã trộm cắp ngày 19/11/2024. Cùng ngày 04/12/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện T tiến hành xác định hiện trường vị trí bà L bị mất trộm tiền là bên trong tủ bán hàng để trong cửa hàng nhà bà L và thu giữ 01 hòm bằng kim loại kích thước (38x25x14)cm.

Ngày 05/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã triệu tập Trần Văn Đ lên làm việc, quá trình làm việc Đ khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 19/11/2024, Đ mượn xe mô biển kiểm soát 98D1-352.17 của mẹ là chị Nguyễn Thị N để đi chơi. Khoảng hơn 19 giờ, Đ đi về qua cửa hàng của bà Nguyễn Thị L tại tổ dân phố N, thị trấn C, huyện T thì thấy khóa cửa, không có ai ở nhà nên Đ nảy sinh ý định vào cửa hàng nhà bà L qua đường cửa sau nhà để trộm cắp tài sản (Đ thường xuyên mua hàng, ăn sáng ở quán bà L nên biết phía sau cửa hàng có cửa ra vào). Đ đi xe ra phía đằng sau nhà bà L, để xe mô tô ở rìa đường, trèo tường vào bãi đất nhà ông Nguyễn Văn S, trèo qua tường vào phía sau nhà bà L, đi đến cửa sau đẩy cửa thấy cửa không đóng, Đ mở cửa đi vào trong nhà. Khi vào trong nhà, Đ đi đến khu vực xe hàng để gần cửa ra vào phía trước, thấy không khoá nên đã mở cửa xe hàng thấy có hòm bằng kim loại không khoá, Đ mở nắp phát hiện bên trong chiếc hòm có một túi nilon mầu đỏ, bên trong đựng một cọc tiền, Đ lấy cọc tiền cất vào trong chiếc balo mầu đen khoác trên người, còn túi nilon mầu đỏ thì bỏ lại, sau đó Đ đi ra chỗ để xe theo lối cũ để về nhà. Khi về nhà thì Đ ngồi ở trong phòng đếm số tiền trộm cắp được 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), sau khi đếm tiền xong, Đ lại cất tiền vào ba lô.

Đến ngày 20/11/2024, Đ đến trường dự Lễ kỷ niệm ngày nhà giáo Việt Nam 20/11, gặp bạn cùng lớp là Nguyễn Bình A và đưa cho 37.000.000 đồng nhờ mua hộ điện thoại di động Iphone 16 P, A đồng ý (Đ không nói cho A biết nguồn gốc số tiền này do Đ trộm cắp mà có). Sau đó A đã đến nhà Lã Trung Đ1 hỏi mua điện thoại. Điền bán cho A 01 chiếc điện thoại Iphone 16 Promax mầu vàng với giá 37.000.000 đồng, khoảng 09 giờ sáng ngày 20/11/2024 A về trường học đưa điện thoại cho Đ. Thấy Đ có tiền mua điện thoại, A hỏi vay 10.000.000 đồng để mua điện thoại sử dụng, Đ đưa cho A số tiền 10.000.000 đồng. Khoảng 16 giờ cùng ngày A đến gặp Lã Trung Đ1 mua 01 chiếc điện thoại Iphone 13 màu hồng với giá 10.000.000 đồng để sử dụng. Sau khi trộm cắp tiền của bà L, Đ vẫn đến quán bà L để mua hàng, thấy Đ có điện thoại mới thì bà L nghi ngờ và hỏi lấy tiền đâu ra để mua điện thoại, Đ bảo đánh tài xỉu mà có, bà L bảo Đ đưa trang đánh tài xỉu người thua chuyển tiền để bà L xem thì Đ không mở được trang người chuyển tiền đến. Sau đó, bà L hỏi Đ có lấy tiền của bà L không thì Đ không thừa nhận, ngày 22/11/2024, Đ chi tiêu cá nhân còn lại số tiền 16.500.000 đồng thì bị chị Nguyễn Thị N phát hiện, chị N hỏi Đ ở đâu có số tiền này thì Đ nói dối với chị N là do chơi tài xỉu được, chị N thu số tiền 16.500.000 đồng. Vài hôm sau Đ vẫn đến quán của bà L và được động viên và thuyết phục Đ thừa nhận trộm cắp tiền của bà L và hứa trả lại tiền. Bà L tiếp tục nhắn tin đòi tiền thì Đ sử dụng điện thoại Iphone 16 Promax mầu vàng nhắn tin khất nợ. Tuy nhiên, do cần tiền chi tiêu cá nhân nên Đ đã bán chiếc điện thoại Iphone 16 Promax mầu vàng được 28.500.000 đồng cho người không quen biết, toàn bộ số tiền trộm cắp được Đ đã chi tiêu cá nhân hết không trả tiền cho bà L.

Cơ quan điều tra cho Đ thực nghiệm điều tra diễn ra lại quá trình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, kết quả Đức diễn lại thuần thục hành vi trộm cắp tiền tại quán bán hàng nhà bà L. Cơ quan điều tra cho Đ quan sát hình ảnh nội dung tin nhắn do bà L giao nộp, Đ xác định tin nhắn “Bà thư thư cho con 2 ngày đc k ạ. Con đang gom tiền ròi ạ. Bh con mới cầm máy” là Đức nhắn cho bà L xin vài ngày để trả lại tiền đã trộm cắp.

Tại bản Cáo trạng số: 27/CT-VK ngày 17/3/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119, Điều 124, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên, xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày 11/4/2025. Giao bị cáo cho UBND xã C giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S số máy “MKQN2J/A, số sê ri: C6KR3430GRY9, vỏ màu bạc cũ đã qua sử dụng, màn hình bị nứt vỡ rạn chân chim, lắp thẻ sim một mặt có in chữ 4G Viettel 8984048000946499466” nhưng tạm giữ để thi hành án.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc ba lô màu đen.

- Tịch thu 01 chiếc quần dài màu đen, chất liệu bằng vải cũ, 01 áo phông cộc tay màu đen, trên ngực áo có chữ “blowin” màu trắng cũ để tiêu hủy.

Bị cáo Trần Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Trần Văn Đ trình bày: Bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, bị cáo không bị oan và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định và hợp pháp.

[2] Về việc người tham gia tố tụng vắng mặt: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Xét thấy họ có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, việc vắng mặt của những người trên không làm ảnh hưởng tới sự thật khách quan của vụ án, tài sản bị mất đã được nhận lại và không có yêu cầu bồi thường, do vậy không làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[3] Tại phiên toà, bị cáo Trần Văn Đ thành khẩn khai báo, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 19/11/2024 tại quán bán hàng của bà Nguyễn Thị L thuộc tổ dân phố N, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của bà L, thực hiện trộm cắp tiền nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, số tiền bị cáo chiếm đoạt là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và phạm tội với lỗi cố ý. Căn cứ vào số tiền bị cáo chiếm đoạt Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, tài sản trộm cắp bị cáo đã tự nguyện khắc phục trả lại cho bị hại số tiền đã trộm cắp, bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có bà nội, bà ngoại được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ, trong thời gian học tập năm 2021 - 2022 được tặng giấy khen học sinh tiên tiến. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, của Bộ luật Hình sự, Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Hành vi trên của bị cáo Trần Văn Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, quá trình khai báo luôn tỏ ra thành khẩn và ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động đến gia đình khắc phục hậu quả là bồi thường cho bị hại số tiền trộm cắp. Thời điểm phạm tội bị cáo được 17 tuổi 02 ngày là người chưa thành niên phạm tội có mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần năm mức phạt tù so với người đã thành niên, bị cáo được hưởng tình tiết theo quy định tại Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự, khoản 1 Điều 119, Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên. Nhận thấy không cần thiết áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội, mà cải tạo, giáo dục bị cáo tại địa phương cũng đủ răn đe bị cáo thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội. Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt, hình phạt cho bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

[6] Đối với bà Nguyễn Thị N giao cho bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98D1-352.17, xe có dung tích xi lanh trên 50cm³ khi chưa có giấy phép lái xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã chuyển tài liệu và xe mô tô đến Công an huyện T để xử lý theo quy định. Ngày 04/02/2025, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt hành chính (phạt tiền) đối với bà Nguyễn Thị N và bị cáo. Ngày 06/02/2025, Công an huyện T xử lý vật chứng trả lại xe mô tô biển kiểm soát 98D1-352.17 cho bà N quản lý, sử dụng là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Bình A mua hộ bị cáo chiếc điện thoại Iphone 16 Promax màu vàng và vay bị cáo số tiền 10.000.000 đồng để mua điện thoại, A không biết là tiền do bị cáo trộm cắp mà có nên không vi phạm pháp luật. Đối với chiếc điện thoại Iphone 13 màu hồng A mua 10.000.000 đồng, A đã nhờ mẹ trả lại cho bị cáo Đ số tiền vay nên chiếc điện thoại Iphone 13 màu hồng là tài sản của A, Cơ quan điều tra Công an huyện T xử lý vật chứng trả lại cho A chiếc điện thoại trên là có cơ sở.

Đối với bà Nguyễn Thị N quản lý số tiền 16.500.000 đồng của nhưng không biết số tiền trên bị cáo trộm cắp mà có nên bà N không vi phạm pháp luật.

Đối với anh Lã Trung Đ1 là người bán điện thoại cho A nhưng không biết nguồn gốc số tiền A mua điện thoại do bị cáo trộm cắp mà có nên anh Đ1 không vi phạm pháp luật. Chiếc điện thoại Iphone 16 Promax màu vàng bị cáo bán cho người không biết tên tuổi địa chỉ, do vậy Cơ quan điều tra không thu giữ được chiếc điện thoại này.

Đối với 01 chiếc hòm bằng kim loại không có khoá, số tiền 26.500.000 đồng Cơ quan điều tra thu giữ xác định là tài sản của bà L nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà L là có cơ sở.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và thời điểm chuẩn bị xét xử bị cáo Trần Văn Đ đã cùng gia đình trả đủ bà Nguyễn Thị L số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), đến nay bà L không có yêu cầu đề nghị bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do vậy không đặt ra xem xét giải quyết về bồi thường dân sự.

[8] Về xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S số máy “MKQN2J/A, số sê ri: C6KR3430GRY9, vỏ màu bạc cũ đã qua sử dụng, màn hình bị nứt vỡ rạn chân chim, lắp thẻ sim một mặt có in chữ 4G Viettel 8984048000946499466” là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Đối với 01 chiếc quần dài màu đen, chất liệu bằng vải cũ, 01 áo phông cộc tay màu đen, trên ngực áo có chữ “blowin” màu trắng cũ, 01 chiếc ba lô màu đen cũ là vật dụng bị cáo mặc sử dụng thực hiện hành vi trộm cắp, bị cáo không có yêu cầu nhận lại, xét thấy những vật chứng trên có giá trị ít, cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí: Bị cáo Trần Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101, Điều 65, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Khoản 1 Điều 119, Điều 124, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên. Điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6, khoản 1 Điều 23 của nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 11/4/2025.

- Giao bị cáo Trần Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

2. Về vật chứng:

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S số máy “MKQN2J/A, số sê ri: C6KR3430GRY9, vỏ màu bạc cũ đã qua sử dụng, màn hình bị nứt vỡ rạn chân chim, lắp thẻ sim một mặt có in chữ 4G Viettel 8984048000946499466” nhưng tạm giữa để đảm bảo thi hành án.

- Tịch thu 01 chiếc quần dài màu đen, chất liệu bằng vải cũ, 01 áo phông cộc tay màu đen, trên ngực áo có chữ “blowin” màu trắng cũ, 01 chiếc ba lô màu đen cũ để tiêu hủy.

(Vật chứng của vụ án như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên.)

3. Về án phí: Bị cáo Trần Văn Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được (hoặc kể từ ngày niêm yết) bản án xét xử vắng mặt.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh BG;
  • - VKSND huyện Tân Yên;
  • - TAND tỉnh BG;
  • - Công an tỉnh Bắc Giang ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BG;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Yên;
  • - UBND xã Cao Xá;
  • - Bị cáo; bị hại, người có QLNVLQ;
  • - Đại diện HP của bị cáo;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Đại diện HP của NCQLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Huy Biên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 11/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 27/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 19/11/2024 Trần Văn Đ thực hiện lấy trộng của bà Nguyễn Thị L số tiền 100.000.000 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger