Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-PT

Ngày: 11 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Được.

Các Thẩm phán: Ông Lâm Bách;

Ông Cao Thiện Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 04 - 4 - 2025, tại Phòng xét xử số 02, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 23/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Trần Thị H4 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 08/2025/HS-ST ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.

- Bị cáo có kháng cáo:

TRẦN THỊ H4, sinh năm: 1992, tại tỉnh Ninh Thuận. Giới tính: Nữ;

Nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; con ông: Trần Văn V, sinh năm 1969 và bà Trần Thị H, sinh năm 1971; Chồng: Nguyễn Thanh T, sinh năm 1989 (đã ly hôn); con: Có 02 người con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang thực hiện lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo hiện đang tại ngoại.

Có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, còn có 01 bị cáo Nguyễn Huy T1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 26/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N tiếp nhận tin báo của Phòng C Công an tỉnh N về việc: Qua công tác nghiệp vụ, Phòng C phát hiện Trần Thị H4 thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thanh T (là chồng cũ của Trần Thị H4), tạm giữ: 03 tờ giấy A4 có in chữ và số bằng mực màu đen thể hiện nội dung vay mượn tiền; 01 cuốn vở ô ly học sinh bìa ngoài nhãn hiệu T.T.Book ABC, bên trong có 04 bốn trang giấy có ghi chữ và số bằng mực xanh; 02 dao, mỗi dao có màu trắng sáng, mũi nhọn, một cạnh sắc bén, chiều dài lưỡi dao 21cm, cán dài 14cm, bản rộng 3,5cm; 01 dao, loại dao lưỡi lê, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, có một cạnh sắc bén, một cạnh hình cong lượn sóng, mũi nhọn, bản rộng nhất 04cm, lưỡi dao dài 18cm, cán bằng gỗ dài 12cm, rộng 03cm, dao được bọc bằng vải màu đen; 02 dao, loại song lê, tổng chiều dài 29cm, mỗi dao có lưỡi bằng kim loại dài 13cm, mũi nhọn, một cạnh sắc bén, bản rộng 1,5cm, cán dao bằng kim loại màu đen, dài 16cm; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số IMEI1: 352182860327493, số IMEI 2: 352182862327491, gắn sim số 0878800939; 01 điện thoại di động Nokia bàn phím, số IMEI1: 352607740179151, số IMEI2: 352607740679150, gắn sim số 0878800739 và sim số 0919869960; 01 điện thoại di động Samsung A23, số IMEI1: 354491511312046, số IMEI2: 357022901312044, gắn sim số 0933342635; số tiền 7.180.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Huy T1 tại phường T, TP . - T tạm giữ: 01 điện thoại di động loại bàn phím, nhãn hiệu Nokia, màu đen, số IMEI1: 359192490570795, số IMEI 2: 359192490570803, gắm sim số 0797696339; 01 xe mô tô, hiệu Majetty, màu xanh, biển số: 85B1-513.46; 01 thẻ ATM ngân hàng V2 mang tên Nguyễn Huy T1; số tiền 3.000.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 22/11/2023 đến tháng 02/2024 (Không nhớ rõ ngày), Trần Thị H4 đã cho nhiều người trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận vay tiền với lãi suất cao, số tiền cho vay dao động từ 1.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trở lên, dưới 02 hình thức, vay đứng và vay trả góp, với lãi suất cho vay từ 182,5%/năm đến 730%/năm, gấp 09 lần đến 36,5 lần so với quy định của Bộ luật dân sự. Khi người vay có nhu cầu vay tiền thì sẽ gọi điện trực tiếp cho H4, H4 sẽ đến nhà hoặc nơi buôn bán của người vay để đưa tiền, khi vay thì không làm hợp đồng hay phải thế chấp tài sản hoặc giấy tờ gì. Hàng ngày, H4 đi thu tiền của người vay. Hình thức vay đứng là người vay sau khi vay tiền hàng ngày đều phải trả tiền lãi cho H4 đến khi trả hết nợ gốc thì việc vay mượn chấm dứt. Hình thức vay góp là người vay sẽ thỏa thuận với H4 số tiền vay và số ngày phải trả góp. Mỗi ngày người vay đều trả cho H4 một khoản tiền, trong đó bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi hàng ngày. Quá trình điều tra xác định, Trần Thị H4 đã sử dụng số tiền 264.000.000 đồng để cho 19 người vay, thu được 156.175.000 đồng tiền lãi, trong đó có 7.884.905 đồng tiền lãi hợp pháp, 148.280.095 đồng thu lợi bất chính, cụ thể như sau:

  1. Đối với Phan Hồ Thái N:

    Hình thức vay trả góp, từ ngày 22/11/2023 đến ngày 29/12/2023, đã có 04 lần đáo hạn, số tiền vay là 20.000.000 đồng, tiền lãi đã đóng cho Trần Thị H4 4.000.000 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp 109.589 đồng, thu lợi bất chính 3.890.411 đồng.

  2. Đối với Trần Thị Thu T2:

    Hình thức vay trả góp và vay đứng từ ngày 25/11/2023 đến ngày 25/4/2024, đã có 04 lần đáo hạn, số tiền vay là 20.000.000 đồng, tiền lãi đã đóng cho Trần Thị H4 8.750.000 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp 369.862 đồng, thu lợi bất chính 8.380.138 đồng.

  3. Đối với Phan Thị Hồng Đ:

    Hình thức vay trả góp và vay đứng từ ngày 28/11/2023 đến ngày 20/4/2024, đã có 03 lần đáo hạn, số tiền vay là 15.000.000 đồng, tiền lãi đã đóng cho Trần Thị H4 4.350.000 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp 189.039 đồng, thu lợi bất chính 4.160.961 đồng.

  4. Đối với Lê Thị Tuyết H1:

    Hình thức vay trả góp và vay đứng từ ngày 12/12/2023 đến ngày 01/01/2024, đã có 02 lần đáo hạn, số tiền vay là 10.000.000 đồng, tiền lãi đã đóng cho Trần Thị H4 7.800.000 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp 372.602 đồng, thu lợi bất chính 7.427.398 đồng.

  5. Đối với Hồ Thị Thu V1:

    Hình thức vay trả góp và vay đứng từ tháng 12/2023 đến tháng 3/2024, đã có 14 lần đáo hạn, số tiền vay là 45.000.000 đồng, tiền lãi đã đóng cho Trần Thị H4 9.710.000 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp 290.950 đồng, thu lợi bất chính 9.419.050 đồng.

  6. Đối với Nguyễn Thị L:

    Hình thức vay trả góp và vay đứng từ tháng 11/2023 đến ngày 26/4/2024, đã có 07 lần đáo hạn, số tiền vay là 16.000.000 đồng, tiền lãi đã đóng cho Trần Thị H4 6.660.000 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp 326.574 đồng, thu lợi bất chính 6.333.426 đồng.

  7. Đối với Nguyễn Anh T3:

    Hình thức vay trả góp và vay đứng từ ngày 06/01/2024 đến ngày 25/4/2024, số tiền vay là 30.000.000 đồng, tiền lãi đã đóng cho Trần Thị H4 6.300.000 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp 257.530 đồng, thu lợi bất chính 6.042.470 đồng.

  8. Đối với Nguyễn Thị Mỹ H2:

    Hình thức vay trả góp từ ngày 06/01/2024 đến ngày 22/4/2024, đã có 07 lần đáo hạn, số tiền vay là 35.000.000 đồng, tiền lãi đã đóng cho Trần Thị H4 7.000.000 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp 287.671 đồng, thu lợi bất chính 6.712.329 đồng.

  9. Đối với Nguyễn Thị Kim P:

    Hình thức vay trả góp từ ngày 04/12/2023 đến ngày 29/02/2024, đã có 07 lần đáo hạn, số tiền vay là 35.000.000 đồng, tiền lãi đã đóng cho Trần Thị H4 7.000.000 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp 249.315 đồng, thu lợi bất chính 6.750.685 đồng.

  10. Đối với Huỳnh Thị Kim L1:

    Hình thức vay đứng từ tháng 11/2023 đến ngày 25/4/2024, số tiền vay là 5.000.000 đồng, tiền lãi đã đóng cho Trần Thị H4 6.250.000 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp 342.465 đồng, thu lợi bất chính 5.907.535 đồng.

  11. Đối với Nguyễn Thị Mỹ T4:

    Hình thức vay đứng từ tháng 11/2023 đến ngày 25/4/2024, số tiền vay là 5.000.000 đồng, tiền lãi đã đóng cho Trần Thị H4 6.475.000 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp 443.835 đồng, thu lợi bất chính 6.031.165 đồng.

  12. Đối với Phan Thị Bích H3:

    Hình thức vay đứng từ tháng 11/2023 đến ngày 06/4/2024, số tiền vay là 5.000.000 đồng, tiền lãi đã đóng cho Trần Thị H4 7.900.000 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp 432.876 đồng, thu lợi bất chính 7.467.124 đồng.

  13. Đối với Trần Thị Thu H4:

    Hình thức vay đứng từ ngày 10/3/2024 đến ngày 25/4/2024, số tiền vay là 2.000.000 đồng, tiền lãi đã đóng cho Trần Thị H4 940.000 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp 51.506 đồng, thu lợi bất chính 888.494 đồng.

  14. Đối với Trần Thị Huỳnh A:

    Hình thức vay đứng từ ngày 16/12/2023 đến ngày 31/3/2024, số tiền vay là 3.000.000 đồng, tiền lãi đã đóng cho Trần Thị H4 3.210.000 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp 175.890 đồng, thu lợi bất chính 3.034.110 đồng.

  15. Đối với Trần Quang M:

    Hình thức vay đứng từ tháng 4/2023 đến ngày 17/4/2024, số tiền vay là 10.000.000 đồng, tiền lãi đã đóng cho Trần Thị H4 29.850.000 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp 1.635.615 đồng, thu lợi bất chính 28.214.385 đồng.

  16. Đối với Nguyễn Thị Bạch L2:

    Hình thức vay trả góp và vay đứng từ tháng 4/2023 đến ngày 16/4/2024, số tiền vay là 12.000.000 đồng, tiền lãi đã đóng cho Trần Thị H4 13.260.000 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp 775.890 đồng, thu lợi bất chính 12.484.110 đồng.

  17. Đối với Nguyễn Thị Kim T5:

    Hình thức vay trả góp và vay đứng từ tháng 5/2023 đến ngày 25/4/2024, số tiền vay là 17.000.000 đồng, tiền lãi đã đóng cho Trần Thị H4 20.040.000 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp 1.141.916 đồng, thu lợi bất chính 18.898.084 đồng.

  18. Đối với Đinh Quốc A1:

    Hình thức vay trả góp từ tháng 9/2023 đến tháng 12/2023, số tiền vay là 9.000.000 đồng, tiền lãi đã đóng cho Trần Thị H4 1.800.000 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp 147.945 đồng, thu lợi bất chính 1.652.055 đồng.

  19. Đối với Trần Kim T6:

    Hình thức vay trả góp và vay đứng từ tháng 7/2023 đến tháng 02/2024, số tiền vay là 5.000.000 đồng, tiền lãi đã đóng cho Trần Thị H4 4.880.000 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp 283.835 đồng, thu lợi bất chính 4.596.165 đồng.

Đối với Nguyễn Huy T1, trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2024 đến ngày 25/4/2024, Nguyễn Huy T1 đã được Trần Thị H4 thuê đi thu tiền lãi, tiền góp của 13 người, thu được 43.718.254 đồng tiền lãi, trong đó có 2.667.372 đồng tiền lãi hợp pháp, 41.050.883 đồng tiền thu lợi bất chính. T1 đã được H4 trả tiền công 6.000.000 đồng.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 08/2025/HS-ST ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận đã quyết định:

Áp dụng: Khoản 2, 3 Điều 201; Điểm i, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị H4 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị H4 12 (mười hai) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Phạt bổ sung bị cáo Trần Thị H4 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) sung vào Ngân sách Nhà nước.

* Đối với số tiền 264.000.000 đồng, Trần Thị H4 đã sử dụng cho 19 người vay, được xác định là phương tiện phạm tội và khoản tiền 7.884.905 đồng lãi tương ứng với lãi suất 20%/năm là khoản tiền phát sinh từ hành vi phạm tội, tổng cộng là 271.884.905 đồng.

* Buộc Trần Thị H4 nộp lại số tiền 208.584.905 đồng sung vào Ngân sách Nhà nước.

* Đối với số tiền 148.280.095 đồng, Trần Thị H4 đã thu lãi vượt quá quy định của Bộ luật Dân sự, Cơ quan điều tra đề nghị Trần Thị H4 phải trả lại cho những người vay số tiền 45.154.402 đồng. Riêng số tiền 103.125.693 đồng, H4 đã thu lãi vượt quá quy định của Bộ luật Dân sự nhưng người vay không yêu cầu H4 trả lại nên không đề nghị xử lý.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

* Phần kháng cáo:

  • Ngày 15/01/2025, bị cáo Trần Thị H4 kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, xin cho hưởng án treo.

  • Giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm: bị cáo nộp 10 triệu đồng theo biên lai thu tiền số 0001775 ngày 01/42/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – T;

  • Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình giống với bản án sơ thẩm, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Thị L3 đúng chủ thể và đảm bảo thời hạn theo quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, quyết định hình phạt 12 tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đề nghị HĐXX phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 1 Điều 357 BLTTHS, tuyên xử: Chấp nhận 1 phần đơn kháng cáo của bị cáo Trần Thị H4. Sửa bản án sơ thẩm số: 08/2025/HS-ST ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T; Giữ nguyên mức hình phạt tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: con bị cáo còn nhỏ, cần người chăm sóc nên xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo:

Bị cáo Trần Thị H4 kháng cáo đúng quy định tại các Điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: với những chứng cứ, tài liệu thu thập tại hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm có đủ cơ sở xác định:

Trong khoảng thời gian từ ngày 22/11/2023 đến tháng 2/2024, trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, Trần Thị H4 đã thực hiện hành vi cho vay tiền với lãi suất từ 182,5%/năm đến 730%/năm gấp 9 lần đến 36,5 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự. Trần Thị H4 đã cho 19 người vay tiền với tổng số tiền cho vay là 264.000.000 đồng, thu lợi bất chính 148.280.095 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Thị H4 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, với tình tiết định khung tăng nặng “Thu lợi bất chính 100 triệu đồng trở lên” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo thể hiện sự bất chấp pháp luật, vì động cơ vụ lợi nên cố tình thực hiện tội phạm, trực tiếp xâm phạm quy định quản lý hoạt động tín dụng, lợi ích của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần thiết phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung.

[3] Xét các kháng cáo của bị cáo, thấy rằng:

[3.1] Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo:

Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tự nguyện nộp một phần số tiền thu lợi bất chính; có xem xét điều kiện về nhân thân, hoàn cảnh gia đình, người phạm tội là phụ nữ có thai theo quy định tại điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mức hình phạt 12 tháng tù đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

[3.2 Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về hoạt động tín dụng, trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong dư luận xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay Nhà nước ta đang xử lý nghiêm các hành vi tín dụng đen. Bị cáo không đủ điều kiện cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 2 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS về án treo, tại văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022.

[3.3] Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Hành vi phạm tội của bị cáo diễn ra trong thời gian dài, số tiền thu lợi bất chính lớn (148.280.095 đồng). Việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt bổ sung, phạt 40.000.000 đồng đối với bị cáo Trần Thị H4 là phù hợp, đúng quy định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

[3.4] Mức hình phạt 12 tháng tù đối với bị cáo Trần Thị H4 là đã xem xét giảm nhẹ cho bị cáo; Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí phúc thẩm:

Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Hương

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.

Tuyên bố: bị cáo Trần Thị H4 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Áp dụng: khoản 2 Điều 201; điểm i, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị H4 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.

Áp dụng khoản 3 Điều 201 BLHS, phạt bổ sung bị cáo Trần Thị H4 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng).

Tiếp tục tạm giữ số tiền 15.000.000 đồng bị cáo tạm nộp theo biên lai thu tiền số: 0001723 ngày 07/01/2025 và biên lai thu tiền số: 0001775 ngày 01/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – T để đảm bảo cho việc thi hành án.

Về án phí: Bị cáo Trần Thị H4 phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày 11 - 4 - 2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND Tp. Phan Rang - Tháp Chàm;
  • - TAND Tp. Phan Rang - Tháp Chàm;
  • - Chi cục THADS Tp. Phan Rang - Tháp Chàm;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh (PV 06);
  • - Bị cáo;
  • - Phòng KTNV-THA; HCTP;
  • - Lưu: án văn, hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Được

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-PT ngày 11/04/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 27/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Thị H phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger