|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2025/HS-PT Ngày: 06/3/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Từ
Các Thẩm phán: Bà Thái Thị Hồng Vân, bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:
Ông Lang Văn Bảo - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06/3/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 159/2024/TLPT-HS ngày 08/10/2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn H do có kháng cáo bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 66/2024/HS-ST ngày 04/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn H, sinh năm 1976, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: K, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá 12/12; dân tộc:Kinh; giới tính:Nam; tôn giáo: không; quốc tịch:Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 (đã chết) và bà Vũ Thị C (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1978; Con có 03 người con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/01/2024 đến ngày 14/5//2024 được tại ngoại. Có mặt.
Ngoài ra, còn có các bị cáo Nguyễn Văn H2, Phạm Văn C1, Nguyễn Văn S, Trần Xuân B không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ quen biết nhau với nhau từ trước và biết Nguyễn Văn H là lái xe tuyến Việt Nam - Lào của Công ty TNHH D có pháo nổ bán nên ngày 04/01/2024, Nguyễn Văn H2 đã điện thoại để hỏi mua 02 thùng pháo nổ (loại thùng 24 cối pháo, mỗi cối 36 quả) thì được H đồng ý. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 20/01/2024, H liên lạc với Huế để thông báo việc giao nhận hàng.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn H2 đến nhà của Phạm Văn C1 và nói: “Tối nay pháo về mà đang thiếu tiền”, thì C1 nói: “Rứa anh hỏi anh S xem vì lần trước anh S dặn khi mô có pháo thì gọi”. Sau đó C1 dùng điện thoại gọi cho Nguyễn Văn S rồi đưa máy cho H2 nói chuyện với S. H2 nói: “Có lấy pháo thì lên nhà C1, anh em bàn bạc rồi ta đi lấy”, S đồng ý. Lúc này, anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1990, trú tại thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An nghe vậy cũng đưa cho C1 1.900.000 đồng để đặt mua 02 (Hai) cối pháo. C1 nhận tiền từ anh K và bỏ thêm 100.000 đồng để tròn 2.000.000 đồng cho H2 đi lấy pháo. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, S đi đến nhà của C1 gặp Huế và C1. H2 nói với C1 và S: “Có pháo về 48 khối, hiện tại chưa đủ tiền lấy pháo”, S trả lời: “Cứ lấy về đi, anh mua 14 khối, có pháo là có tiền”. Nghe vậy H2 nói: “Tý nữa pháo về thì hai anh em vô chở cho em cấy” (ý nói pháo về thì nhờ C1 và S đi chở về giúp Huế), nghe vậy thì C1 và S đồng ý. Huế và C1 thoả thuận: Bán được mỗi cối C1 đưa cho H2 900.000 đồng/khối, tiền lời C1 sẽ hưởng. Huế và C1 thống nhất bán cho S 14 khối với giá 1.050.000 đồng/khối (tổng 14.700.000 đồng).
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, H2 gọi điện cho Trần Xuân B và hỏi: “Mọi bựa dặn pháo dừ có lấy nựa không, lấy thì ra nhà C1 ta nói chuyện, tí ta đi lấy pháo”, B đồng ý. H2 hỏi: “Anh lấy mấy cối”, thì B trả lời: “Chú có thì để cho anh 10 cối”. H2 tiếp tục nói: “Nếu anh lấy 10 cối thì em lấy giá 8.000.000 đồng”. Sau đó, B đến nhà C1 đưa cho H2 số tiền 6.000.000 đồng để đặt mua 10 (mười) khối pháo, số tiền còn lại sẽ chuyển lại sau cho H2 rồi ngồi nói chuyện cùng H2, B, S, C1. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến khu vực đường H đoạn qua Ngã 5, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An, H dừng xe và gọi cho H2 ra lấy pháo. Sau đó, H lấy 02 (hai) thùng pháo ra đợi Huế đến lấy. Sau khi nhận được điện thoại, H2 chở B đi trước để lấy pháo và nói với S: “Khi mô pháo về thì gọi điện cho lên mà lấy”.
Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 21/01/2024, B điều khiển xe mô tô mang BKS 84C1-084.23 chở Huế đến khu vực đường H, đoạn qua Ngã 5, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An. Khi gặp H dừng xe, H giao 02 (hai) thùng pháo cho H2. H2 đưa cho H 8.000.000đồng và hẹn số tiền còn lại H2 sẽ trả sau. Sau đó, H điều khiển xe ô tô đầu kéo đi.
Sau khi nhận được pháo, H2 nói B chở 01 (một) thùng pháo đưa về nhà C1 trước, còn H2 gọi điện cho S chở C1 lên khu vực đường H đoạn qua Ngã 5, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An để lấy pháo. S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, BKS 37E1-03795 chở C1 đến vị trí của Huế để chở pháo về. Đến nơi, H2 chỉ cho S và C1 vị trí thùng pháo, C1 và S cho thùng pháo lên xe rồi chở về nhà C1.
Khi B chở 01 (một) thùng pháo về đến nhà C1, B bê thùng pháo bỏ vào chân cầu thang. Một lúc sau, C1 và S về đến nhà, C1 bê thùng pháo còn lại để dưới chân cầu thang (cạnh thùng pháo của B để vào). Dưới sự chứng kiến của C1, B bóc ra và lấy 10 khối pháo bỏ vào bao tải và đưa về nhà cất giấu để bán kiếm lời. Khi S đi vào thấy 02 (hai) thùng cát tông (01 thùng còn nguyên và 01 thùng còn 14 khối pháo), thấy vậy S lấy thùng cát tông còn 14 khối pháo ra xe và chở về đến nhà cất giữ bán kiếm lời. Sau đó C1 lên chở H2 về nhà Huế.
Đến 07 giờ ngày 21/01/2024, H2 đi đến nhà C1 và hỏi: “Pháo ở mô” thì C1 nói: “Ở dưới cầu thang đó”, H2 mở thùng cát tông và lấy 02 (hai) khối pháo giao cho anh K, còn lại 22 (Hai mươi hai) khối để nguyên tại vị trí cũ để khi có người hỏi mua thì bán kiếm lời.
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 21/01/2024, S mang 12 (mười hai) khối pháo đến khu vực xóm G, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An để bán kiếm lời thì bị lực lượng Công an huyện T bắt quả tang và thu giữ 12 (mười hai) khối pháo (14,442kg). Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của S và thu giữ 02 (hai) khối pháo (2,379 kg) còn lại. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn C1 thu giữ 22 khối pháo (27,073 kg). Cùng ngày, Trần Xuân B và Nguyễn Văn H đã ra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi tại Cơ quan CSĐT Công an huyện T, B giao nộp 10 (mười) khối pháo (11,987 kg).
Về nguồn gốc số Pháo nói trên Nguyễn Văn H khai mua của một người đàn ông không quen biết tại chợ V chở về Việt Nam bán. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 20/01/2024 khi về đến khu vực tỉnh Hà Tĩnh, H đã báo giá 02 thùng Pháo với H2 là 37.000.000 đồng và gửi số tài khoản ngân hàng B1 và H2 đã chuyển khoản cho H 16.000.000 đồng, sau đó hẹn H2 tại khu vực ngã 5 đường mòn Hồ Chí Minh để giao hàng và thanh toán số tiền còn lại.
Ngày 21/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã thành lập hội đồng mở niêm phong, cân xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, Quyết định trưng cầu giám định các mẫu vật thu giữ của Nguyễn Văn S, Trần Xuân B, Phạm Văn C1.
Tại bản Kết luận giám định số 226/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 28/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:
Mẫu vật ký hiệu M1A thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn S gửi giám định là P, thuộc loại Pháo nổ.
Mẫu vật ký hiệu M2A thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn văn S là Pháo, thuộc loại Pháo nổ.
Mẫu vật ký hiệu M3A do Trần Xuân B giao nộp khi đầu thú gửi giám định là P, thuộc loại Pháo nổ.
Mẫu vật ký hiệu M4A thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn C1 gửi giám định là Pháo, thuộc loại Pháo nổ”.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2024/HS-ST ngày 04/9/2024, Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 17 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Bị cáo được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày ngày 21/01/2024 đến ngày 14/5//2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 04/9/2024, bị cáo Nguyễn Văn H kháng cáo xin được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Tòa án chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 17, Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 năm tù cho hưởng án treo về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Bị cáo không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H làm đơn kháng cáo trong hạn luật định; nội dung, hình thức đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H, thấy rằng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản án sơ thẩm đã nhận xét, đánh giá. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để khẳng định: Vào ngày khoảng 0h15 phút ngày 21/01/2024, tại khu vực đường H, đoạn qua Ngã 5, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn H đã có hành vi bán cho Nguyễn Văn H2 46 khối pháo nổ có khối lượng 55,881kg. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn H thấy rằng: Nguồn gốc số pháo bị thu giữ là do Nguyễn Văn H bán cho các bị cáo khác; bị cáo không có tình tiết tăng nặng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú và tích cực hợp tác với Công an thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội và Công an huyện G, Thành phố Hà Nội phát hiện tội phạm, khởi tố vụ án, khởi tố bị can; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được Chủ tịch UBND thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội tặng Giấy khen vì đã có thành tích trong công tác phối hợp đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội; bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Văn H1, bố mẹ vợ bị cáo là ông Nguyễn Quý P1, bà Nguyễn Thị N được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 03 năm tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là là có căn cứ. Tuy nhiên xét thấy, số lượng pháo bị cáo H phạm tội trên mức khởi điểm khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự không đáng kể; vụ án có đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới là hiến máu cứu người và thực hiện tốt công tác thiện nguyện ủng hộ người nghèo đón tết được cơ quan có thẩm quyền xác nhận; bản thân bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng và có ý thức tự cải tạo; đặc biệt bị cáo nhiều lần hợp tác với cơ quan có thẩm quyền phát hiện tội phạm, giúp cơ quan tiến hành tố tụng xử lý được nhiều vụ việc đảm bảo an ninh trật tự xã hội. Vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp để thể hiện chính sách nhân đạo khoan hồng cùa pháp luật và khuyến khích người phạm tội tố giác tội phạm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo về tội “Buôn bán hàng cấm”, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho UBND thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Từ |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Thái Thị Hồng Vân Nguyễn Thị Thanh N1 |
Nguyễn Thị Thu T |
Bản án số 27/2025/HS-PT ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự (buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 27/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H - Buôn bán hàng cấm
