|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2025/HS-PT Ngày 14 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Mạnh và ông Nguyễn Vĩnh Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thao - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Mầu Mai Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo Ngô Chí H và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo Ngô Chí H và Khương Văn D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 98/2024/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Ngô Chí H, sinh ngày 25/7/1974, tại xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Chí Đ và bà Phạm Thị H1; vợ là Đỗ Thị N và 03 con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/6/2024 đến ngày 21/6/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tại ngoại (có mặt).
2. Khương Văn D, sinh ngày 20/12/1984, tại xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn Q, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khương Văn T và bà Vũ Thị N1; Có vợ là Ngô Thị H2 (đã ly hôn) và 01 con (sinh năm 2011);
Tiền án: 02
+ Bản án số 55/2013/HS-ST ngày 27/11/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt D 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Diện chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2019. Ngày 25/01/2014 D đã chấp hành xong về án phí và các quyết định khác của bản án.
+ Bản án số 134/2020/HS-ST ngày 22/9/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt D 03 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ngày 22/4/2020, D đã chấp hành xong án phí hình sự, đến ngày 28/12/2020, D đã chấp hành xong án phí dân sự trong vụ án hình sự. Diện chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/01/2023. (Đã tái phạm)
- Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/9/2024 đến ngày 23/10/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tại ngoại (có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có 01 bị cáo khác, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 12/6/2024, Công an huyện L phát hiện bắt quả tang các đối tượng Đỗ Quốc Đ1; Triệu Thị M và Ngô Chí H, đều ở thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; Đào Xuân H3, ở thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc đang đánh bạc tại nhà ở của Được bằng hình thức đánh S thắng thua bằng tiền, tỷ lệ thắng thua là 5.000 đồng /1 lá bài. Sau đó Công an huyện L tiến hành lập biên bản và thu giữ tổng số tiền đánh bạc 1.860.000 đồng và các vật chứng liên quan.
Quá trình làm việc, Cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại của H phát hiện H có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi bán số lô, số đề cho một số đối tượng. Cơ quan điều tra triệu tập Nguyễn Văn Đ2, Đỗ Quốc T1 và Khương Văn D lên làm việc, tại Cơ quan điều tra các đối tượng đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:
Khoảng đầu tháng 4 năm 2024, Ngô Chí H do cần tiền tiêu sài cá nhân nên đã nảy sinh ý định đánh bạc dưới hình thức ghi bán số lô, số đề, H đã sử dụng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu xanh, bên trong lắp sim số điện thoại 0919.087.xxx (số điện thoại của H) để ghi bán số lô, số đề. H ghi bán số lô cho Nguyễn Văn Đ2, Đỗ Quốc T1, đều trú tại thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc và Khương Văn D ở thôn Q, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. H bán số lô, số đề cho Đ2, T1 và D thông qua tin nhắn SMS (số thuê bao di động của Đ2 là 0962104633, số của T1 là 0969393585 và số của D là 0344834366) và thống nhất thanh toán tiền với nhau trực tiếp bằng tiền mặt hoặc qua chuyển khoản ngân hàng (Đ2 sử dụng số tài khoản 9922686686686, H sử dụng số tài khoản 6161686686686, D sử dụng số tài khoản 556363638888 đều mở tại ngân hàng Thương mại cổ phần Q (M1). H, Đ2, T1 và D thống nhất lấy kết quả Xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày làm kết quả so sánh, trong đó số đề là số có hai chữ số, so sánh với hai số cuối của giải đặc biệt, nếu trúng thì tỉ lệ 1 được 70; số ba càng là số có ba chữ số, so sánh với 03 chữ số cuối của giải đặc biệt, nếu trúng thì tỉ lệ 1 được 400; số lô là số có 02 chữ số, so sánh với hai số cuối của tất cả các giải, khi mua thì 1 điểm lô được tính từ 22.000 đồng đến 22.500 đồng, nếu trúng thì được 80.000 đồng; lô xiên 2 là cặp 02 số lô, nếu trúng thì được tiền theo tỉ lệ 1 được 10; lô xiên 3 là cặp 03 số lô, nếu trúng thì được tiền theo tỉ lệ 1 được 40. Hà nhiều lần đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho Đ2, T1 và D, trong đó có 02 lần số tiền dùng vào việc đánh bạc trên 5.000.000 đồng, cụ thể:
Ngày 04/4/2024 và ngày 11/6/2024, H ghi bán số lô, số đề cho Đ2 02 lần:
Lần 1: Khoảng 15 giờ 45 phút, ngày 04/4/2024 H ghi bán cho Đ2 các số đề “đầu 8” gồm các số 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, mỗi số 10.000 đồng = 100.000 đồng và số đề 85 = 50.000 đồng. Tổng số tiền Đ2 mua số đề của H là 1.050.000 đồng nhưng thực tế Đắc chỉ phải trả cho H số tiền là 840.000 đồng (được trừ 20% chiết khấu hoa hồng mua số đề). Đ2 đã thanh toán tiền mua số đề cho H. So sánh kết quả mở thưởng Xổ số kiến thiết miền B cùng ngày thì Đắc trúng số đề 89 = 100.000 đồng, được số tiền là 7.000.000 đồng, H đã trả thưởng cho Đ2. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc ngày 04/4/2024 là 8.050.000 đồng.
Lần 2: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 11/6/2024, H ghi bán cho Đắc các số lô 17, 71 mỗi số 10 điểm = 450.000 đồng; các số đề 17, 71 mỗi số 30.000 đồng = 60.000 đồng, các số lô 71, 93 mỗi số 20 điểm = 900.000 đồng (01 điểm lô 22.500 đồng) và số lô xiên hai (71-93) là 100.000 đồng. Tổng số tiền Đ2 mua các số lô, số đề của H 1.510.000 đồng. Đ2 đã thanh toán tiền mua số lô, số đề cho H. So sánh kết quả mở thưởng Xổ số kiến thiết miền Bắc cùng ngày thì Đắc trúng số lô 93 = 20 điểm, được số tiền là 1.600.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc ngày 11/6/2024 là 3.110.000 đồng.
Ngày 30/5/2024 H ghi bán số lô cho D 01 lần:
Khoảng 17 giờ 05 phút, ngày 30/5/2024 H ghi bán cho D các số lô 35, 53, 36, 63, 05, 56, 60, 70, 90 mỗi số 30 điểm, tổng là 270 điểm lô (01 điểm lô 22.000 đồng). Tổng số tiền D mua số lô của H là 5.940.000 đồng. Diện đã thanh toán tiền mua số lô cho H. So sánh kết quả mở thưởng Xổ số kiến thiết miền B cùng ngày thì D không trúng số lô nào. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc ngày 30/5/2024 là 5.940.000 đồng.
Từ ngày 04/6/2024 đến ngày 08/6/2024 H ghi bán số lô, số đề cho T1 04 lần:
Lần 1: Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 04/6/2024, H ghi bán cho T1 các số đề: 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, mỗi số 10.000 đồng; các số đề 45, 54, 59 mỗi số 20.000 đồng. Tổng số tiền T1 mua số đề của H là 160.000 đồng, T1 chưa thanh toán tiền mua số đề cho H. So sánh kết quả mở thưởng Xổ số kiến thiết miền B cùng ngày thì T1 không trúng số đề nào. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc ngày 04/6/2024 là 160.000 đồng.
Lần 2: Khoảng 16 giờ 10 phút ngày 06/06/2024, H ghi bán cho T1 các số đề: 00, 10, 20, 30, 40, 50, 60, 70, 80, 90 mỗi số 10.000 đồng = 100.000 đồng; tổng 2 gồm các số: 02, 11, 20, 39, 48, 57, 66, 75, 84, 93, mỗi số 15.000 đồng = 150.000 đồng. Tổng số tiền T1 mua số đề của H là 250.000 đồng, T1 chưa thanh toán tiền mua số đề cho H. So sánh kết quả mở thưởng Xổ số kiến thiết miền B cùng ngày thì T1 không trúng số đề nào. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc ngày 06/6/2024 là 250.000 đồng.
Lần 3: Khoảng 17 giờ 05 phút ngày 07/06/2024, H ghi bán cho T1 các số đề: tổng 3 gồm các số: 03, 12, 21, 30, 49, 58, 67, 76, 85, 94; dây 08 gồm các số: 03, 08, 30, 35, 53, 58, 80, 85 mỗi số 10. 000 đồng. Tổng số tiền T1 mua số đề là 180.000 đồng, T1 chưa thanh toán tiền mua số đề cho H. So sánh kết quả mở thưởng Xổ số kiến thiết miền B cùng ngày thì T1 không trúng số đề nào. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc ngày 07/6/2024 là 180.000 đồng.
Lần 4: Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 08/6/2024, H ghi bán cho T1 các số đề: dây 09 gồm các số 04, 09, 40, 45, 54, 59, 90, 95, mỗi số = 15.000 đồng; các số đề 45, 54, 90 mỗi số = 15.000 đồng. Tổng số tiền T1 mua số đề là 165.000 đồng, T1 chưa thanh toán tiền mua số đề cho H. So sánh kết quả mở thưởng Xổ số kiến thiết miền B cùng ngày thì T1 không trúng số đề nào. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc ngày 08/6/2024 là 165.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định: Khi tham gia đánh bạc (đánh sâm) Đỗ Quốc Đ1 có 200.000 đồng, Triệu Thị M có 100.000 đồng, Đào Xuân H3 có 350.000 đồng, Ngô Chí H có 1.210.000 đồng, các đối tượng khai nhận sử dụng để đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền Được, M, H3 và H sử dụng để đánh bạc là 1.860.000 đồng, bản thân Được, M, H3 và H chưa có tiền án, tiền sự, về hành vi đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên không cấu thành tội phạm. Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt hành chính là có căn cứ.
Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 98/2024/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
Tuyên bố:
Tuyên bố các bị cáo Ngô Chí H, Khương Văn D phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với Ngô Chí H.
Xử phạt bị cáo Ngô Chí H 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị bắt tạm giữ từ ngày 12/6/2024 đến ngày 21/6/2024.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Khương Văn D.
Xử phạt bị cáo Khương Văn D 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị bắt tạm giam từ ngày 20/9/2024 đến ngày 23/10/2024.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ2; quyết định hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/12/2024, các bị cáo Ngô Chí H, Khương Văn D kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2024/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc với nội dung: bị cáo Khương Văn D Xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo Ngô Chí H xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Ngô Chí H, Khương Văn D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Khương Văn D, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Chí H, sửa bản án sơ thẩm số 98/2024/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; xử phạt bị cáo Khương Văn D 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị bắt tạm giam từ ngày 20/9/2024 đến ngày 23/10/2024; xử phạt bị cáo Ngô Chí H 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo Ngô Chí H, Khương Văn D làm trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận:
Do cần tiền tiêu sài cá nhân, nên Ngô Chí H đã nhiều lần đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho Nguyễn Văn Đ2 ở cùng thôn ngày 04/4/2024 tổng số tiền đánh bạc là 8.050.000 đồng; Khương Văn D ở thôn Q, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc ngày 30/5/2024 là 5.940.000 đồng. Như vậy tổng số tiền H đánh bạc với Đ2, D là 13.990.000 đồng.
Trong vụ án này, Ngô Chí H có vai trò chính, bán số lô, số đề cho Nguyễn Văn Đ2 và Khương Văn D; Đ2 và D là người mua số lô, số đề của H tham gia với vai trò đồng phạm.
Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng pháp luật, xét xử các bị cáo Ngô Chí H, Khương Văn D về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo Ngô Chí H, Khương Văn D:
Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Khương Văn D, xét thấy:
Bị cáo D là người có nhân thân xấu, có 02 tiền án: Ngày 27/11/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; ngày 22/9/2020 bị cáo bị Tòa án nhân dân Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt xử phạt 03 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội mà vẫn tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét khách quan, toàn diện về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, từ đó áp dụng pháp luật xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt là 03 năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật, do vậy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Ngô Chí H cho thấy: Bị cáo H là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo nộp thêm tài liệu chứng cứ mới là biên lai nộp số tiền 8.700.000 đồng (gồm 8.500.000 đồng tiền bị truy thu và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm) và 01 phiếu thu thể hiện bị cáo ủng hộ Hội chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc số tiền 1.000.000 đồng, tại chi cục thu hành án dân sự huyện L nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, số tiền đánh bạc của bị cáo không nhiều, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định nên không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cũng như tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội được tự cải tạo, sửa chữa sai lầm.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.
[6] Về án phí: Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Khương Văn D và bị cáo Ngô Chí H xuất trình biên nộp đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với án phí hình sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của bị cáo Khương Văn D không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, yêu cầu kháng cáo của bị cáo Ngô Chí H được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Chí H, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Khương Văn D. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2024/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đối với hình phạt của bị cáo Ngô Chí H.
Tuyên bố các bị cáo Ngô Chí H, Khương Văn D phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Ngô Chí H 08 (T2) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Ngô Chí H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Khương Văn D 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị bắt tạm giam từ ngày 20/9/2024 đến ngày 23/10/2024.
Xác nhận bị cáo Ngô Chí H đã nộp số tiền truy thu và án phí hình sự sơ thẩm tổng là 8.700.000 đồng theo biên lai số 0000092 ngày 11/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lập Thạch.
Xác nhận bị cáo Khương Văn D đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo biên lai số 0000091 ngày 11/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lập Thạch.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Ngô Chí H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Khương Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 27/2025/HS-PT ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 27/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: các bị cáo Ngô Chí H, Khương Văn D phạm tội “Đánh bạc”.
