TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2025/HS-PT Ngày: 11/6/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Tuấn
Bà Hoàng Ngọc Liễu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: Ông Bùi Đức Hạnh – Kiểm sát viên
Ngày 11/6/2025, tại trụ Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 27/2025/TLPT-HS ngày 23 tháng 4 năm 2025 đối các bị cáo Trần Xuân T, Trần Văn C, Ngô Văn L do có kháng cáo của các bị cáo Trần Xuân T, Trần Văn C, Ngô Văn L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2025/HS-ST ngày 13/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
- Các bị cáo có kháng cáo:
- Trần Xuân T; sinh ngày 23 tháng 09 năm 1985 tại: Hòa Bình.
Trú tại: Tổ F, phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân U (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1946; có vợ là Trần Thị T1, sinh năm 1989 (Đã ly hôn), có 01 con, sinh năm 2014; gia đình bị cáo có 4 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không;
Về nhân thân:
- + Năm 2007, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 06 tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại Khoản 1 Điều 139 BLHS (cũ), buộc nộp 50.000 đồng tiền án phí HSST theo Bản án số 151/2007/HSST ngày 28/11/2007.
- + Năm 2016, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 12/QĐ-TAND ngày 23/6/2016;
- + Năm 2018, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Khoản 1 Điều 249 BLHS, buộc nộp 200.000 đồng tiền án phí HSST theo Bản án số 33/2018/HSST ngày 07/6/2018.
- + Năm 2019, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Khoản 1 Điều 249 BLHS, buộc nộp 200.000 đồng tiền án phí HSST theo Bản án số 107/2019/HSST ngày 19/11/2019.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/09/2024. Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
- Trần Văn C; sinh ngày 23 tháng 03 năm 1989 tại: Hà Nội.
Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn C1, sinh năm 1957 và con bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1955; có vợ là Nguyễn Thị T3, sinh năm 1993, con: không có; gia đình bị cáo có 3 anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không;
Về nhân thân: Năm 2020, bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 42/2020/QĐ-XLHC ngày 14/8/2020;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/09/2024. Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
- Ngô Văn L; sinh ngày 20 tháng 04 năm 1993 tại: Hòa Bình.
Trú tại: Tổ A, phường T, Thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn T4, sinh năm 1962 và con bà Lê Thị T5, sinh năm 1971; có vợ là Lê Thị H, sinh năm 1996, có 02 con; gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không;
Về nhân thân:
- + Năm 2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 30 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Khoản 1 Điều 194 BLHS (cũ), buộc nộp 200.000 đồng tiền án phí HSST theo Bản án số 34/2013/HSST ngày 19/3/2013.
- + Năm 2019, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 82/2019/QĐTA-XLHC ngày 13/12/2019.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/09/2024. Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 8 giờ 30 phút ngày 24/9/2024, T gặp C ở khu vực cổng chữ A thuộc phường Q, Thành phố H. Qua trao đổi, T rủ C góp tiền để mua ma túy về cùng sử dụng, C đồng ý. C đưa cho T số tiền 140.000 đồng, T góp số tiền 60.000 đồng. Sau đó, cả hai thuê xe ôm vào khu vực Trường Sư phạm tỉnh H để tìm mua ma túy nhưng không mua được. Sau đó, T và C đi xe bus về khu vực chợ N1, Thành phố H. Khi cả hai đi bộ đến khu vực đường T thuộc tổ A, phường P, TP . thì gặp L. Do biết L là người nghiện ma túy, T rủ L góp tiền để cùng sử dụng, L đồng ý và đưa cho T số tiền 200.000 đồng. Lúc này, T bảo C đi mua xi lanh và nước cất mục đích để pha chế ma túy, L đứng đợi còn T cầm toàn bộ số tiền 400.000 đồng vừa góp được để đi tìm mua ma túy. Bị cáo T bảo C và Lâm đợi ở đường T để về cùng sử dụng ma túy.
Khi T đi đến đầu đường T (cách vị trí đứng tập trung của nhóm khoảng 60 mét) thì gặp một người đàn ông khoảng 40-45 tuổi, mặc áo cộc tay màu trắng, T không biết nhân thân, lai lịch người này. Qua trao đổi, T mua được của người đàn ông này 01 gói ma túy với giá 400.000 đồng. Sau đó, T cầm gói ma túy vừa mua được quay lại chỗ hẹn. Lúc này, C cũng vừa đi mua được 03 chiếc xi lanh và 02 ống thủy tinh đựng nước cất với giá 10.000 đồng về. Tại đây, T đưa cho L gói ma túy vừa mua được và bảo L đổ ma túy vào trong xi lanh do C đưa. Đổ ma túy vào xi lanh xong, C đưa xi lanh bên trong có ma túy cho T để T cho nước cất vào pha. Số ma túy còn lại Lâm gói lại rồi cất giấu trong lòng bàn tay để khi cả nhóm sử dụng xong thì lấy ra pha sử dụng tiếp. T dùng xi lanh hút nước cất từ 02 ống thủy tinh rồi pha ma túy thành dạng dung dịch, sau đó chia vào trong 02 xi lanh còn lại. Khi T đang chia ma túy mới được vào 02 (hai) xi lanh thì bị tổ công tác Công an thành phố H phát hiện, bắt quả tang. Qua trình bắt giữ, do lo sợ nên L đã ném gói ma túy từ trong lòng bàn tay xuống nền đất đang đứng.
Bản kết luận giám định số 510/KL-KTHS ngày 01/10/2024 của Phòng K – Công an tỉnh H, kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong một mặt ghi "PHONG BÌ NIÊM PHONG VẬT CHỨNG VỤ TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY. Đối tượng bị bắt: 1. Trần Xuân T, SN: 1985; HKTT: tổ F, phường Đ, TP . tỉnh Hòa Bình; 2. Trần Văn C, SN: 1989, HKTT: Đài 2, xã Đ, C, Hà Nội; 3. Ngô Văn L, SN: 1993, HKTT: tổ A, phường T, TP ., tỉnh Hòa Bình; Ngày bắt: 24/9/2024, tại: Tổ A, phường P, TP ., Hòa Bình, phong bì số: 01, mẫu vật: gửi giám định" gửi giám định có khối lượng 0,03g (Không phẩy không ba gam), là ma túy, loại Heroine (H).
Đối với số ma túy đã được pha thành dạng dung dịch đựng trong 02 (hai) xi-lanh thu giữ, tại Bản kết luận giám định số 7356/KL-KTHS ngày 04/10/2024 của V – Bộ C2, kết luận: Tìm thấy chất ma túy Heroine trong mẫu dung dịch trong 02 (hai) bơm kim tiêm gửi giám định. Khối lượng Heroine trong 1,1ml dung dịch gửi giám định là 0,027gam. Như vậy, tổng khối lượng ma túy Cơ quan Công an đã thu giữ của các bị cáo ngày 24/9/2024 là 0,03 gam + 0,027 gam = 0,057 gam ma túy, loại Heroine.
Bản án sơ thẩm số 40/2025/HS-ST ngày 13/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Xuân T, Trần Văn C, Ngô Văn L phạm tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- - Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38; Điều 17; Điều 58 BLHS. Xử phạt: Bị cáo Trần Xuân T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/09/2024.
- - Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38 Điều 17; Điều 58 BLHS. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/09/2024.
- - Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38; Điều 17; Điều 58 BLHS. Xử phạt: bị cáo Ngô Văn L 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/09/2024.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 18/3/2025, bị cáo Trần Văn C có đơn kháng cáo kêu oan về việc Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử phạt bị cáo về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Ngày 19/3/2025, bị cáo Trần Xuân T, Ngô Văn L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Xuân T, Ngô Văn L tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Bị cáo Trần Văn C thay đổi nội dung kháng cáo, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã xét xử.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, khẳng định quá trình điều tra, truy tố và xét xử của cấp sơ thẩm là đúng pháp luật. Việc rút kháng cáo của bị cáo Trần Xuân T, Ngô Văn L là tự nguyện đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo T, L. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Văn C, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không kháng cáo kêu oan và tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo cung cấp được tài liệu chứng cứ mới bị cáo có bố là thương binh, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C.
Từ các căn cứ nêu trên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 342; 348; 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trần Xuân T, Ngô Văn L. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Văn C, sửa bản án sơ thẩm số 41/2025/HS-ST ngày 13/3/2025 và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- [1] Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định, được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong vụ án. Ngày 24/9/2024, Trần Xuân T, Trần Văn C, Ngô Văn L là các đối tượng nghiện chất ma túy, để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, ngày 24/09/2024 các bị cáo đã cùng nhau góp tiền, tìm mua ma túy là H1, chuẩn bị xi lanh, nước cất để cùng sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực đường T thuộc tổ A, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Khi chưa kịp sử dụng thì bị Tổ công tác Công an thành phố H phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 0,057 gam ma túy, loại Heroin và các vật chứng liên quan.
- [3] Xét việc rút kháng cáo của bị cáo Trần Xuân T, Ngô Văn L: Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Xét thấy, việc rút kháng cáo của các bị cáo là tự nguyện nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm với bị cáo T, L.
- [3] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn C: Ngày 18/3/2025, bị cáo C kháng cáo kêu oan. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo C thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xét xử. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo C cung cấp được tài liệu chứng cứ mới là giấy chứng nhận thương binh của bố đẻ là ông Trần Văn C1. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Văn C
- [4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- [5] Về án phí: Các bị cáo Trần Xuân T, Ngô Văn L, Trần Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 342; Điều 348; Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Trần Xuân T, Ngô Văn L.
- Căn cứ Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357;
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Văn C của bị cáo Trần Văn C, sửa bản án sơ thẩm số 41/2025/HS-ST ngày 13/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, cụ thể:
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Trần Văn C phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- Xử phạt Trần Văn C 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/9/2024.
- Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Trần Xuân T, Ngô Văn L, Trần Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (11/6/2025)
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 27/2025/HS-PT ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH về hình sự
- Số bản án: 27/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đ255
