TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 30 - 6 - 2025
Về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Bích Ngọc
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Hải
2. Ông Lê Đức Thành
- Thư ký phiên toà: Bà Đào Hồng Thanh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên.
- Đại diện VKSND thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Ma Thị Huyền T - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại Hội trường Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 116/2025/ TLST- HN&GĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXX-ST ngày 12/6/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lương Thị T1, sinh năm 1989
HKTT: xóm Đậu 8B, xã Minh Đức, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
2. Bị đơn: Anh Lưu Văn K, sinh năm 1989
HKTT: xóm Đ, xã M, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên
(Có mặt chị T1, vắng mặt anh K lần 2 không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lương Thị T1 trình bày: Chị và anh Lưu Văn K tự nguyện kết hôn năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, P, Thái Nguyên.
Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc và đã có hai con chung, con lớn sinh năm 2010, con bé sinh năm 2012. Đến năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn về kinh tế. Anh K thường xuyên uống rượu, không chịu làm ăn hoặc anh có đi làm nhưng không mang kinh tế về cho gia đình vì đã chi phí cho rượu chè hết. Mỗi khi anh K đi uống rượu bia về thì lại chửi bới chị. Vì thương con cái còn nhỏ và được sự động viên của hai bên gia đình, chị cũng cố gắng chịu đựng, nín nhịn để cho con cái có trọn vẹn cả bố lẫn mẹ. Đến khoảng vài năm gần đây thì mâu thuẫn vợ chồng trở nên căng thẳng hơn vì những lần anh K sử dụng rượu nhiều hơn, tuần một lần. Những khi anh say không làm chủ bản thân, chửi bới chị, vứt quần áo của chị. Đỉnh điểm của mâu thuẫn là từ tháng 1/2025, anh K đi làm nhưng không có tiền đưa cho chị để lo tết cho gia đình dẫn đến vợ chồng cãi nhau anh K đã đánh chị và đuổi chị ra khỏi nhà. Anh còn và làm đơn ly hôn bắt chị ký nhưng vì thương con nên chị không ký. Từ sau sự việc đó, tuy anh chị vẫn cùng chung sống dưới một mái nhà nhưng vợ chồng không có quan hệ tình cảm, không ai quan tâm đến ai, không có sự chia sẻ với nhau về mọi công việc trong gia đình. Đến tháng 5/2025, khi quyết định nộp đơn xin ly hôn, chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để ở. Anh K cũng có sang nhà chị, nhờ bố mẹ chị động viên chị về đoàn tụ nhưng chị cương quyết không về vì bản thân chị đã nín nhịn quá nhiều, không thể nhẫn nhịn được nữa. Anh K cũng nhiều lần hứa sẽ thay đổi nhưng không thực hiện nên chị không còn niềm tin vào việc hứa hẹn của anh K. Chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã không thể hàn gắn được nên chị vẫn cương quyết xin được ly hôn. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, chị T1 vẫn giữ nguyên ý kiến, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn để giải phóng cho nhau.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là Lưu Văn S, sinh ngày 18/01/2010 và Lưu Minh S1, sinh ngày 19/11/2012. Hiện các con chung đang ở cùng với anh K nhưng chị vẫn thường xuyên đi lại với các con vì nhà nội, nhà ngoại cũng ở gần nhau. Do các con đã lớn có nhận thức riêng nên chị đề nghị giải quyết theo nguyện vọng của các con chung. Trường hợp các con chung có nguyện vọng ở cùng với bố, chị cũng đồng ý.
Về tài sản chung: Chị và anh K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Các khoản nợ chung: Không có.
Bị đơn anh Lưu Văn K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân:Về thời gian kết hôn, đăng ký kết hôn nhất trí như chị T1 trình bày là đúng.
Sau khi kết hôn, vợ chồng có mâu thuẫn như chị T1 trình bày là đúng. Anh thừa nhận bản thân anh cũng có nhiều cái sai. Trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, anh cũng có sử dụng rượu bia với bạn bè và sau những lần như vậy thì anh cũng có những lời lẽ xúc phạm, chửi bới vợ vì bản thân anh cũng có nhiều bức xúc, trong chuyện sinh hoạt vợ chồng giữa anh và chị T1, nhiều khi chị T1 không đồng ý, đẩy anh ra khiến anh cũng có những suy nghĩ tiêu cực. Anh thừa nhận là có chuyện anh vứt quần áo của chị T1 và đuổi chị T1 đi nhưng do lúc đó anh cũng buồn bực nhiều vấn đề, anh cũng đã nhận ra lỗi lầm của anh và cũng đã xin lỗi vợ nhưng chị T1 không đồng ý và cũng đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ đầu tháng 5/2025. Đến nay chị T1 có đơn xin ly hôn anh, quan điểm của anh không đồng ý ly hôn, mong chị T1 suy nghĩ lại để về nuôi con và mong Tòa án hòa giải cho vợ chồng anh chị về đoàn tụ.
Về con chung: Vợ chồng có 02 chung như chị T1 trình bày là đúng. Trường hợp phải ly hôn anh đề nghị được nuôi cả hai con chung. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh chị không có tài sản chung, công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình hòa giải, các đương sự không thỏa thuận được việc thuận tình ly hôn do chị T1 vẫn cương quyết ly hôn, anh K không đồng ý. Về con chung, các đương sự nhất trí thỏa thuận anh K trực tiếp nuôi hai con chung Lưu Văn S, sinh ngày 18/01/2010 và Lưu Minh S1, sinh ngày 19/11/2012. Về cấp dưỡng nuôi con: chị T1, anh K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản chung: chị T1, anh K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Khoản nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, của Hội đồng xét xử của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, bị đơn không thực hiện đúng theo quy định pháp luật. VKS không có ý kiến gì.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng 51, 56, 81,82,83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T1.
- + Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị T1 được ly hôn anh Lưu Văn K.
- + Về con chung: Đề nghị giao 02 con chung là Lưu Văn S, sinh ngày 18/01/2010 và Lưu Minh S1, sinh ngày 19/11/2012 cho anh Lưu Văn K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
Việc cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Chị T1 được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
- + Về tài sản chung: chị T1, anh K tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- + Công nợ chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết.
- + Án phí : Chị T1 phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa. HĐXX nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1].Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lương Thị T1 khởi kiện xin ly hôn và đề nghị giải quyết quyền nuôi con chung với bị đơn anh Lưu Văn K có đăng ký nhân khẩu thường trú tại xóm Đ, xã M, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự xác định đây là Tranh chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên.
[1.2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Anh K vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy anh K đã được thông báo hợp lệ về việc mở phiên tòa lần thứ 2 nhưng cố tình vắng mặt. Tại phiên tòa, đại diện VKS, đương sự đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX quyết định tiếp tục xét xử vắng mặt bị đơn anh K theo quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị T1 và anh Lưu Văn K tự nguyện kết hôn năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, thị xã (nay là thành phố) P, tỉnh Thái Nguyên ngày 16/02/2009, là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn về kinh tế, tình cảm do anh K thường xuyên tụ tập bạn bè, rượu chè, không tu chí để phát triển kinh tế gia đình. Bản thân anh K đã được chị T1 bỏ qua nhiều lần, gia đình hai bên cũng tham gia hòa giả cho anh chị nhưng không có kết quả. Đỉnh điểm của mâu thuẫn là vào dịp tết, anh chị xảy ra việc cãi vã, mắng chửi nhau dẫn đến vợ chồng tuy vẫn chung sống dưới một mái nhà nhưng không còn sự chia sẻ về tình cảm, về công việc gia đình cũng như không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa và chính thức ly thân từ tháng 5/2025 cho đến nay. Quá trình giải quyết, anh K thừa nhận nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là lỗi của anh, do anh không có bản lĩnh, thường xuyên rượu chè dẫn đến không kìm chế được bản thân và xảy ra chuyện anh chửi bới, đánh đuổi chị T1, tuy nhiên anh vẫn còn tình cảm với chị, mong muốn chị bỏ qua để vợ chồng về đoàn tụ. Tòa án đã tiến hành hòa giải, tuy nhiên anh chị đều không thay đổi quan điểm. Tại phiên tòa, chị T1 vẫn cương quyết xin ly hôn vì xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc.
HĐXX thấy rằng, nguyện vọng xin đoàn tụ vợ chồng của anh K là chính đáng, tuy nhiên, anh K không đưa ra được phương án, biện pháp để cải thiện tình cảm vợ chồng. Tòa án đã tiến hành báo anh đến để hòa giải quan hệ vợ chồng cho anh chị lần thứ 2 nhưng anh không đến, tại phiên tòa ngày hôm nay, anh tiếp tục vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy anh hoàn toàn bất lực trong việc khuyên bảo chị T1 về đoàn tụ vợ chồng cũng như không muốn níu kéo quan hệ hôn nhân chị T1. Đối với chị T1, cả quá trình giải quyết và tại phiên tòa đều giữ nguyên quan điểm cương quyết xin được ly hôn, mặc dù đã được Tòa án phân tích, hòa giải, động viên, điều đó cho thấy rằng, tình cảm vợ chồng giữa chị và anh K đã không còn.
Điều 19 Luật hôn nhân gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chung thủy, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống với nhau”.
Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình quy định:
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ .... Hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
HĐXX thấy rằng: Tuy chị T1 và anh K vẫn chung sống dưới cùng một mái nhà nhưng tâm tư, tình cảm dành cho nhau đã không còn, giữa vợ chồng không có sự thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau, cùng chia sẻ công việc trong gia đình. Trên thực tế, anh chị không chung sống với nhau từ tháng 5/2025 cho đến nay là vi phạm nghĩa vụ chung sống với nhau. Việc duy trì quan hệ hôn nhân không đem lại hạnh phúc cho cả hai bên, do vậy cần chấp nhận cho chị T1 được ly hôn với anh K là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
[2.2]. Về con chung: Quá trình chung sống, anh chị có 02 con chung là Lưu Văn S, sinh ngày 18/01/2010 và Lưu Minh S1, sinh ngày 19/11/2012. Hiện các con chung đang ở cùng anh K, tuy nhiên chị T1 vẫn thường xuyên qua lại để chăm sóc các con chung. Quá trình hòa giải tại Tòa án, anh chị đã thỏa thuận được nếu trong trường hợp phải ly hôn, anh Kiểm nhận trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Tại bản trình bày nguyện vọng, các cháu S và cháu S1 đều có nguyện vọng ở cùng với bố. Xét thấy đây là ý trí tự nguyện của các bên và cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung nên HĐXX giao cả hai con chung cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết, anh K và chị T1 đều nhất trí thỏa thuận việc cấp dưỡng anh chị tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra vấn đề phải xem xét.
[2.3]. Về tài sản chung: Chị T1, anh K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra vấn đề phải xem xét.
[2.4]. công nợ chung: Chị T1, anh K xác định không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3]. Về án phí: Chị T1 chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
Áp dụng:
Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và yêu cầu giải quyết về con chung của chị Lương Thị T1 đối với anh Lưu Văn K.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị T1 được ly hôn với anh Lưu Văn K.
2. Về con chung: Giao 02 con chung: Lưu Văn S, sinh ngày 18/01/2010 và Lưu Minh S1, sinh ngày 19/11/2012 cho anh Lưu Văn K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi, có khả năng lao động (hoặc khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật).
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: không xem xét giải quyết do không có yêu cầu.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở họ thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật
3. Tài sản chung: Chị T1, anh K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra vấn đề phải xem xét.
4. Công nợ chung: Chị T1, anh K xác định không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí: Chị Lương Thị T1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên, biên lai thu số 0001610 ngày 08/5/2025.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị T1 tại phiên tòa, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh K vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hà Thị Bích Ngọc |
Bản án số 27/2025/HNGĐ - ST ngày 30/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 27/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Lương Thị T xin ly hôn và đề nghị giải quyết quyền nuôi con chung với anh lưu Văn K
