Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28-02-2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về

nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng

Ông Nguyễn Tất Thể

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 193/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14/02/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Vân T, sinh năm: 2001; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: thôn N, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Hiện đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn L, sinh năm: 2000; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Phan Thị Vân T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Vân T và anh Nguyễn Tuấn L, đăng ký kết hôn với nhau ngày 14/2/2020 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì anh L đi lao động tại Nhật Bản. Đến tháng 3/2022, chị T cũng sang lao động tại Nhật Bản. Mặc dù cả hai cùng ở Nhật Bản nhưng không sống chung. Tháng 6/2022, anh L bị Tòa án nhân dân tỉnh Tokyo kết án hai năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong khoảng thời gian này chị T vẫn qua lại thăm anh nom anh Tuấn L, nhưng đến cuối năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mầu thuẫn là do bất đồng quan điểm và sự áp đặt của anh L bắt chị T phải về Việt Nam, vì vậy vợ chồng tranh cãi, tình cảm phai nhạt dần. Khoảng tháng 6/2023 anh L về Việt Nam còn chị T vẫn ở lại Nhật Bản làm việc, thời gian này vợ chồng thống nhất ly hôn. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, tháng 10/2024 chị Phan Thị Vân T làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn L.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung cháu Nguyễn Mộc N, sinh ngày 11/3/2019. Sau khi vợ chồng đi lao động tại Nhật Bản, cháu N ở với bà Trần Thị T1 (mẹ chị T), khi ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh L nộp tiền cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Tuấn L trình bày: Anh L1 thống nhất như ý kiến chị T về quan hệ hôn nhân và quá trình xảy ra mâu thuẫn của vợ chồng. Xét thấy vợ chồng không thể hàn gắn, nay chị T có đơn xin ly hôn thì anh L1 cũng đồng ý ly hôn.

- Về con chung: vợ chồng có 01 con chung, sau khi vợ chồng đi lao động tại Nhật Bản, cháu Mộc N ở với bà ngoại. Nay vợ chồng ly hôn anh L1 đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị T nộp tiền cấp dưỡng nuôi con. Theo anh L1 trước đây khi về việt nam anh làm thợ cắt tóc, thu nhập mỗi tháng 15.000.000 đồng, hiện nay anh làm quản lý công ty.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau và đề nghị Tòa án áp dụng: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình 2014; Khoản 1 Điều 28; 37; 464 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 3 Nghị Quyết 01/2024 ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ án hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu miễn giảm thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí, giải quyết:

- Về tình cảm: cho chị Phan Thị Vân T được ly hôn anh Nguyễn Tuấn L.

- Về con chung: giao con chung cháu Nguyễn Mộc N, sinh ngày 11/3/2019, cho anh Nguyễn Tuấn L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị T không phải nộp tiền cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí: chị Phan Thị Vân T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự và đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Phan Thị Vân T và anh Nguyễn Tuấn L đăng ký kết hôn ngày 14/02/2020 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Nay chị Phan Thị Vân T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn L. Anh Nguyễn Tuấn L có hộ khẩu thường trú tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Chị Phan Thị Vân T có hộ khẩu thường trú tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang lao động tại Nhật Bản. Tại công văn cung cấp thông tin xuất nhập cảnh số 1088/QLXNC –Đ1 ngày 25/10/2024 của phòng PA08 Công an tỉnh H cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của chị Phan Thị Vân T, sinh ngày 5/10/2001 đã xuất cảnh nhiều lần, lần cuối cùng sử dụng hộ chiếu số HC C9373427, xuất cảnh gần nhất ngày 23/10/2024 qua sân bay Quốc tế N hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Căn cứ các Điều 28, 37, 39; nội dung khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

[1.2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Phan Thị Vân T có đơn xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị T theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Vân T và anh Nguyễn Tuấn L tự do tìm hiểu, kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2020, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Căn cứ quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân của chị T và anh L là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại địa phương sau đó anh L đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Đến tháng 3/2022, chị T cũng sang lao động tại Nhật Bản. Mặc dù, cả hai cùng ở Nhật Bản nhưng không sống chung. Đến cuối năm 2023 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mầu thuẫn là do bất đồng quan điểm và sự áp đặt của anh L bắt chị T phải về Việt Nam, vì vậy vợ chồng tranh cãi, tình cảm phai nhạt dần. Khoảng tháng 6/2023 anh L về Việt Nam còn chị T vẫn ở lại Nhật Bản làm việc, thời gian này vợ chồng thống nhất ly hôn. Nhận thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Phan Thị Vân T về Việt Nam làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn L. Anh Nguyễn Tuấn L thống nhất về nội dung trình bày của chị Phan Thị Vân T về việc kết hôn, quá trình chung sống và phát sinh mâu thuẫn; thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nữa nên việc chị T xin ly hôn thì anh L cũng đồng ý.

Xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh L là có xảy ra trên thực tế và đã trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm, trách nhiệm gì đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được; chị T và anh L đều có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn. Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cho chị Phan Thị Vân T và anh Nguyễn Tuấn L ly hôn.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng có một con chung cháu Nguyễn Mộc N, sinh ngày 11/3/2019. Sau khi vợ chồng đi lao động tại Nhật Bản, cháu N ở với bà Trần Thị T1 (mẹ chị T), khi ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh L nộp tiền cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Tuấn L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị T nộp tiền cấp dưỡng nuôi con. Theo anh L trước đây khi về Việt Nam anh làm thợ cắt tóc, thu nhập mỗi tháng 15.000.000 đồng, hiện nay anh làm quản lý công ty.

Xét thấy, sau khi sinh cháu Nguyễn Mộc N thì cả anh L và chị T đều sang lao động tại Nhật Bản. Cháu Mộc N từ nhỏ đến nay cháu ở với bà Trần Thị K (mẹ đẻ chị T). Mặc dù cháu Mộc N từ nhỏ đến nay đang ở với bà Trần Thị K, phát triển tốt về thể chất và tinh thần, tuy nhiên, trách nhiệm và quyền nuôi dưỡng con chung thuộc về cha mẹ. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên theo quy định tại Điều 71 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Hiện tại anh L về Việt Nam sinh sống và làm việc, đủ điều kiện trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung để đảm bảo sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần cho cháu Mộc N, còn chị T vẫn đang lao động tại Nhật Bản, không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần giao con chung là cháu Nguyễn Mộc N, sinh ngày 11/3/2019 cho anh Nguyễn Tuấn L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên. Chị T không phải nộp tiền cấp dưỡng nuôi con. Sau này khi chị T về Việt Nam sinh sống và làm việc, chị T có quyền khởi kiện đề nghị thay đổi người chăm sóc, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3]. Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Phan Thị Vân T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273, 464, 469, 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 8, 9, 51, 56, 57, 71, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Căn cứ Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phan Thị Vân T và anh Nguyễn Tuấn L ly hôn.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Mộc N, sinh ngày 11/3/2019 cho anh Nguyễn Tuấn L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.

    Chị Phan Thị Vân T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Buộc chị Phan Thị Vân T chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000124 ngày 18/10/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Bị đơn có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tất Thể

Bùi Văn Hồng

Hoàng Ngọc Tùng

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Kỳ Tiến, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Ngọc Tùng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 27/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xủ ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger