Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 27/2025/HNGĐ-ST

Ngày 27 tháng 3 năm 2025

V/v: “Tranh chấp

hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hán Hưởng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phẩm và bà Bùi Thị Hảo.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử công khai vụ án thụ lý số 155/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Phùng Thị Thanh V, sinh năm 1998
  2. Nơi đăng ký thường trú: Khu B, xã P, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Hiện đang ở Đài Loan. (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Việt T, sinh năm 1962.

    Địa chỉ: Số E, đường C, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Trương Thị H - Luật sư Công ty L và cộng sự thuộc Đoàn luật sư thành phố H.

    Địa chỉ: Số D T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến H1, sinh năm 1992
  4. Nơi đăng ký thường trú: Khu B, xã P, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  6. - Ông Nguyễn Tiến H2, sinh năm 1963

    Địa chỉ: Khu B, xã P, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

    - Bà Hoàng Thị V1, sinh năm 1977

    Địa chỉ: Khu A, xã P, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phùng Thị Thanh V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh H1 được tự nguyện kết hôn ngày 26/9/2016, đăng ký kết hôn tại UBND xã P, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống cùng với mẹ đẻ anh anh H1 tại xã P. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Năm 2019, chị đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, đến năm 2024 thì chị về nước và xin ly hôn anh H1 nhưng sau đó rút đơn để vợ chồng giải quyết mâu thuẫn cùng nhau nuôi dạy con chung, mâu thuẫn vợ chồng không được giải quyết. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn anh H1 để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị và anh H1 có 01 con chung là Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 24/8/2017. Chị đề nghị giao con chung cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng khi vợ chồng ly hôn vì hiện nay chị còn đang xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Chị đề nghị cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng kể từ khi vợ chồng ly hôn.

Về tài sản chung, quyền, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 22/11/2024, quá trình giải quyết tại Tòa án cũng như tại phiên tòa, anh H1 trình bày: Anh thừa nhận thời gian kết hôn, quá trình chung sống như chị V đã trình bày là đúng. Tư khi chị V đi xuất khẩu lao động năm 2019 thì chị V không liên hệ với gia đình, từ đó vợ chồng không còn quan tâm đến nhau để cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Nay anh cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên chị V xin ly hôn thì anh cũng nhất trí.

Về con chung: Anh thừa nhận vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 24/8/2017 như chị V trình bày là đúng. Ly hôn anh đề nghị được trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu chị V phải cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.300.000 đồng/tháng kể từ khi vợ chồng ly hôn.

Về nghĩa vụ tài sản: Năm 2018, anh chị có vay của ông Nguyễn Tiến H2 số tiền 130.000.000 đồng để anh có tiền nộp lệ phí đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, sau đó, do không có công việc và thu nhập ổn định nên anh đã về nước. Năm 2019, vợ anh là chị V tiếp tục nộp hồ sơ đi xuất khẩu lao động nên tiếp tục vay ông H2 số tiền 130.000.000 đồng. Tổng cộng hai vợ chồng vay 260.000.000 đồng. Trong quá trình chị V đi xuất khẩu lao động đã trả gửi được một phần tiền về và anh đã trả được một phần cho ông H2. Nay chị V xin ly hôn thì anh có quan điểm số nợ này anh tự trả cho ông H2, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, ông H2 còn cho bà V1 là mẹ đẻ của chị V vay số tiền 50.000.000 đồng khi chị V đi xuất khẩu lao động, anh đề nghị Tòa án giải quyết số tiền này để buộc bà V1 phải trả lại cho ông H2.

Ngoài ra, anh H1 không đề nghị giải quyết nội dung nào khác.

Tại bản tự khai ngày 29 tháng 11 năm 2024, biên bản lấy lời khai, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tiến H2 trình bày: Năm 2018 và năm 2019, vợ chồng anh H1, chị V đi xuất khẩu lao động không có tiền nộp chi phí nên ông phải vay tiền ngân hàng sau đó lấy tiền cho vợ chồng anh chị vay số tiền 260.000.000 đồng. Sau đó anh chị đã trả được một phần số tiền này, đến nay ông cũng không nhớ anh chị đã trả được bao nhiêu tiền nhưng tại phiên tòa ông không yêu cầu Tòa án giải quyết số tiền này nữa. Ngoài ra, năm 2020, ông có đưa cho bà Hoàng Thị V1 là mẹ đẻ của chị V vay số tiền 50.000.000 đồng. Đây la số tiền trước đó bà V1 cho chị V là con dâu ông vay năm 2019, nhưng sau đó ông đã trả cho bà V1 số tiền này thay cho chị V. Tại bản tự khai ông xác định chị V còn vay ông số tiền 50.000.000 đồng, ông yêu cầu chị V phải trả lãi cho ông số tiền này và phải trả lãi 0,9% tháng. Tuy nhiên, tại phiên tòa, ông H2 trình bày: Số tiền này ông trực tiếp đưa cho bà V1, không có giấy tờ gì; ông đề nghị Hội đồng xét xử buộc bà V1 phải trả cho ông số tiền 50.000.000đồng ông đã đưa cho bà V2 năm 2020 và ông không yêu cầu phải trả lãi.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 13 tháng 3 năm 2025, bà Hoàng Thị V1 trình bày: Bà có quan hệ là mẹ đẻ chị Phùng Thị Thanh V. Trước khi vợ chồng anh H1, chị V đi xuất khẩu lao động thì bà có đưa cho ông Nguyễn Tiến H2 vay số tiền 50.000.000 đồng, đến năm 2020, ông H2 có mang 50.000.000 đồng đến trả cho bà, không phải bà nợ tiền của ông H2 nên bà không đồng ý trả số tiền này theo đề nghị của ông H2.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

  • - Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, thư ký, của Hội đồng xét xử tại phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật.
  • - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 123 của Luật Hôn nhân gia đình;
  • Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 26 điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án.
  • - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phùng Thị Thanh V được ly hôn anh Nguyễn Tiến H1.
  • - Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Tiến H1 được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 24/8/2027. Chị V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tương ứng ½ mức lương cơ sở vùng, kể từ khi anh chị ly hôn đến khi con chung thành niên lao động tự túc được.
  • - Về tài sản chung; Quyền, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức: Chị V và anh H1 không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
  • - Đối với lời trình bày của ông H2 đề nghị bà V1 phải trả cho ông H2 số tiền 50.000.000đồng nhưng đề nghị của ông H2 không liên quan đến chị V và anh H1 nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án.
  • - Về án phí: Chị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị V đề nghị giải quyết việc chị xin ly hôn anh H1 là quan hệ về tranh chấp Hôn nhân và gia đình; anh H1 có nơi đăng ký hộ khẩu trú tại xã P, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Trong khi đó, tại văn bản của Phòng Q - Công an tỉnh P cung cấp: xác định chị V chưa có thông tin nhập cảnh. Vì vậy, căn cứ quy định tại khoản 1, Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

[2] Về trình tự thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, chị V đề nghị không hòa giải và đề nghị xét xử vắng mặt, nên căn cứ quy định tại khoản 2, 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án không tổ chức hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử là thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[3] Về nội dung vụ án:

3.1. Xét đề nghị của chị V xin được ly hôn anh H1 thấy rằng: Chị V và anh H1 tự do tìm hiểu và tự nguyên đăng ký kết hôn tại xã P, thành phố V, tỉnh Phú Thọ ngày 26/9/2016 là cuộc hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng được hạnh phúc đầu, sau đó đã xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Sau đó vợ chồng không còn liên hệ quan tâm nhau trong cuộc sống được anh H1 thừa nhận và anh H1 cũng có quan điểm nhất trí ly hôn. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định, tình cảm vợ chồng giữa chị V và anh H1 đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị V, cho chị V được ly hôn anh H1 để ổn định cuộc sống.

3.2. Xét đề nghị của chị V về việc giải quyết nuôi con chung thấy rằng: Chị V và anh H1 có 01 con chung là Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 24/8/2017, hiện nay con chung đang ở cùng anh H1. Anh chị đều thống nhất để anh H1 trực tiếp nuôi con chung và cũng phù hợp nguyện vọng của con chung, nên cần giao con chung cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng sau khi vợ chồng ly hôn là phù hợp.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng:

Xét quan điểm của chị V đề nghị cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng còn anh H1 đề nghị chị V phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.300.000 đồng/tháng thấy rằng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 7 nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024, nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc Hôn nhân và gia đình quy định: “Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”.

Căn cứ nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính Phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động tại thành phố V là Vùng II, mức 4.410.000 đồng/tháng. Nên ½ mức lương tương ứng số tiền 2.205.000đồng, nên chị V có quan điểm cấp dưỡng mức 2.000.000đồng/tháng là nhỏ hơn mức tối thiểu quy định là chưa đảm bảo quyền lợi con chung. Tại phiên tòa, anh H1 đề nghị chị V cấp dưỡng mức 2.300.000đồng/tháng là tự nguyện và đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của anh H1, buộc chị V phải cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 2.300.000 đồng/tháng là phù hợp.

3.3. Về tài sản chung; Quyền, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức: Chị V và anh H1 không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3.4. Xét đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H2 yêu cầu bà V1 phải trả cho ông số tiền 50.000.000 đồng bà V1 nợ năm 2020 thấy rằng: Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị V và anh H1. Trong đó có quan hệ pháp luật được giải quyết trong cùng vụ án là quan hệ về Quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn với bị đơn hoặc giữa nguyên đơn, bị đơn với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Tuy nhiên, đề nghị của ông H2 đối với bà V1 không liên quan đến quyền cũng như nghĩa vụ của chị V hoặc anh H1. Vì vậy, không thể thụ lý để giải quyết trong cùng vụ án. Nếu ông H2 và bà V1 không tự thỏa thuận được thì ông H2 có quyền khởi kiện bà V1 để giải quyết trong vụ án khác. Nên đồng nghĩa việc không chấp nhận đề nghị của ông H2 yêu cầu bà V1 để giải quyết trong vụ án chị V xin ly hôn anh H1.

[4] Về án phí: Chị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

[5] Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về điều luật áp dụng:

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 117 và Điều 123 của Luật Hôn nhân gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; điểm a khoản 2 Điều 227, 228, 271, 273 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 26, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án.

[2] Xử:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phùng Thị Thanh V được ly hôn anh Nguyễn Tiến H1.

2.2. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Tiến H1 được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 24/08/2017; kể từ khi chị V, anh Hải ly H3 đến khi con chung thành niên lao động tự túc được. Chị V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.300.000₫ (Hai triệu ba trăm nghìn đồng)/tháng. Thời điểm cấp dưỡng từ tháng 4/2025 đến khi con chung thành niên lao động tự túc được. Phương thức cấp dưỡng được thực hiện định kỳ hằng tháng và chị V được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

2.3 Về tài sản chung; quyền, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức: Hội đồng xét xử không giải quyết.

[3] Về án phí: Chị Phùng Thị Thanh V phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung, tổng cộng là 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng). Xác nhận chị V đã nộp số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000367 ngày 10/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Chị V còn phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày, tuyên án đương sự có mặt được quyền kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trong hạn 30 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, chị V vắng mặt có quyền kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Cục THA tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND phường Phượng Lâu;
  • - Đương sự;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Văn phòng.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Hán Hưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 27/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Phùng Thị Thanh Vân đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Nguyễn Tiến Hải
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger