|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27-02-2025
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Trọng Quân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hoàng Trang;
- Ông Nguyễn Lê Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lý Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 732/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1988; nơi thường trú: Thôn H, xã A, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; địa chỉ liên hệ: Số F, N, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt;
- Bị đơn: Ông Trần Đăng K, sinh năm 1987; nơi thường trú: xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; tạm trú: 107/21, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 23/9/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị L trình bày:
Bà Trần Thị L và ông Trần Đăng K tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 09-2008, quyển số 01 ngày 21/4/2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, tình trạng kéo dài căng thẳng, đã nhiều lần hàn gắn nhưng không được. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống gia đình không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung nên là cho hai vợ chồng thường xuyên phát sinh cãi vã, vợ chồng không còn hạnh phúc. Bà L xác định cả hai đã ly thân và đều có cuộc sống riêng, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, không còn tình cảm và không còn khả năng hàn gắn để đoàn tụ được nên yêu cầu được ly hôn với ông K.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà L và ông K có 03 người con chung tên Trần Yến V, sinh ngày 18/8/2008; Trần Quỳnh A, sinh ngày 21/4/2013 và Trần Anh Yến N, sinh ngày 09/9/2014, các con hiện đang sống chung với bà L. Sau khi ly hôn, bà L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
Về cấp dưỡng: Bà L yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con số tiền 3.000.000 đồng/03 con/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kèm theo ý kiến, yêu cầu của mình, nguyên đơn đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ: Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); giấy khai sinh của các con chung, căn cước công dân (bản sao).
* Bị đơn ông Trần Đăng K trình bày: Ông K thống nhất với trình bày của bà L về thời gian, điều kiện kết hôn, con chung. Về mâu thuẫn vợ chồng ông K cho rằng trong thời gian chung sống, hai người cũng có mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ. Tuy nhiên, từ đầu năm 2024, bà L đã đưa 03 con về quê ngoại sinh sống và học tập chỉ còn một mình ông K sống ở nhà tại khu phố B, phường B, thành phố T. Ông K cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không lớn, vẫn rất yêu thương vợ con nên không đồng ý ly hôn với bà L. Trường hợp bà L vẫn giữ nguyên ý định ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Các con chung muốn sống với ai thì tùy quyết định, nguyện vọng của các con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu tòa án giải quyết. Do bận công việc nên ông K yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn thì quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp nuôi con, Tòa án nhân dân thành phố Thuận An thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến và yêu cầu khắc phục gì thêm về tố tụng.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà L và ông K đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung, yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 3.000.000 đồng/03 con/tháng là tự nguyện nên buộc ông K phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định; ông K đề nghị Tòa án giải quyết người trực tiếp nuôi con theo nguyện vọng của các con. Theo trình bày của các con thì các con đều mong muốn được sống cùng với bà L nên giao các con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; ông K được quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
- Về tố tụng: Bà Trần Thị L và ông Trần Đăng K có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, việc vắng mặt của bà L và ông K không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
- Về quan hệ tranh chấp: Bà Trần Thị L khởi kiện ly hôn, tranh chấp về con chung với ông Trần Đăng K, đây là tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết: Ông Trần Đăng K là bị đơn hiện đang cư trú tại phường B, thành phố T nên Tòa án nhân dân thành phố Thuận An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị L và ông Trần Đăng K tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 09-2008, quyển số 01 ngày 21/4/2008, đây là hôn nhân hợp pháp.
[3] Về mâu thuẫn vợ chồng: Theo trình bày của nguyên đơn, sau khi kết hôn, bà L và ông K sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, tình trạng kéo dài căng thẳng, đã nhiều lần tự hàn gắn nhưng không có kết quả. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống không hòa hợp, ông K sống không có trách nhiệm với gia đình, cả hai không tìm được tiếng nói chung, không còn hạnh phúc. Bà L xác định hiện nay mỗi người đều có cuộc sống riêng, không còn quan tâm đến nhau, bà L không còn tình cảm với ông K, hai người không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ được nên yêu cầu được ly hôn với ông K.
Ông K cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không lớn, vẫn có khả năng hàn gắn; tuy nhiên ông K thừa nhận từ đầu năm 2024 đến nay, bà L dẫn các con về quê ngoại sinh sống, hai vợ chồng không còn quan tâm đến nhau.
Như vậy, trình bày của bà L về việc mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông K là trầm trọng, hai người đã ly thân, đời sống chung không thể kéo dài, không có khả năng đoàn tụ là có căn cứ.
[4] Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa bà Trần Thị L và ông Trần Đăng K nhằm tạo lên một gia đình hòa thuận, hạnh phúc, vợ chồng yêu thương, giúp đỡ nhau, cùng nhau nuôi dạy con và phát triển kinh tế gia đình không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng không còn tình cảm, bà Trần Thị L yêu cầu được ly hôn với ông Trần Đăng K là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
[5] Về con chung: Theo trình bày của các đương sự, bà L và ông K có có 03 người con chung tên Trần Yến V, sinh ngày 18/8/2008; Trần Quỳnh A, sinh ngày 21/4/2013 và Trần Anh Yến N, sinh ngày 09/9/2014, các con hiện đang sống chung với bà L. Sau khi ly hôn, bà L yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục các con chung. Ông K không tranh chấp gì về việc trực tiếp nuôi con, đồng ý theo nguyện vọng của các con. Tại bản tự khai, các cháu Trần Yến V, Trần Quỳnh A và Trần Anh Yến N đều có nguyện vọng được sống cùng mẹ nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao các con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
[6] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Theo quy định tại Điều 69 của Luật Hôn nhân và gia đình: Cha mẹ có nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc đối với con chưa thành niên. Ông K không sống chung với các con nên có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình. Tại đơn khởi kiện, bà L yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con số tiền 3.000.000đồng/03 con/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Xét thấy, bà L yêu cầu số tiền cấp dưỡng như nêu trên và không yêu cầu gì thêm là tự nguyện nên chấp nhận, buộc ông Trần Đăng K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung gồm Trần Yến V, sinh ngày 18/8/2008; Trần Quỳnh A, sinh ngày 21/4/2013 và Trần Anh Yến N, sinh ngày 09/9/2014 số tiền 3.000.000đồng/03 con/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
[7] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[8] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[9] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà L phải chịu theo quy định của pháp luật. Ông Trần Đăng K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch về cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các điều 68, 69, 70, 71, 72; 81, 82, 83 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Trần Thị L đối với bị đơn - ông Trần Đăng K về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị L được ly hôn ông Trần Đăng K.
- Về con chung: Giao cho bà Trần Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Yến V, sinh ngày 18/8/2008; Trần Quỳnh A, sinh ngày 21/4/2013 và Trần Anh Yến N, sinh ngày 09/9/2014.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Trần Đăng K phải cấp dưỡng nuôi con Trần Yến V, sinh ngày 18/8/2008; Trần Quỳnh A, sinh ngày 21/4/2013 và Trần Anh Yến N, sinh ngày 09/9/2014 số tiền 3.000.000 đồng/03 con/tháng, thực hiện từ tháng 03/2025 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án (Về cấp dưỡng nuôi con) có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện việc cấp dưỡng thì còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trên số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
2. Về án phí:
Bà Trần Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0005321 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Ông Trần Đăng K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con.
3. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Trọng Quân |
Bản án số 27/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 27/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con Luận - Khoa
