|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST Ngày 26 - 3 - 2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Ngọc Biên, ông Nguyễn Văn Thái.
Thư ký phiên tòa: Ông Mông Anh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 191/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 giữa:
Nguyên đơn: Chị Hà Thị D, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: Anh Nông Văn N, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Nơi ĐKTT: Thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nơi ở hiện nay: Cơ sở cai nghiện ma túy N1; địa chỉ: Số A Đ, ấp E, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Hà Thị D trình bày:
Chị kết hôn với anh Nông Văn N vào năm 2013 trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Cưới xong chị và anh N chung sống với nhau ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh N ham chơi, không quan tâm vợ con, gia đình góp ý nhiều lần nhưng anh N vẫn không thay đổi. Chị và anh N đã sống ly thân hơn 01 năm nay, vợ chồng không quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau, việc ai người đó làm. Tháng 04/2024 anh N bị bắt đi cai nghiện ma túy bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy N1 (thành phố Hồ Chí Minh), từ đó chị và anh N không còn thông tin gì nữa. Nay chị thấy thời gian vợ chồng ly thân đã lâu, tình cảm không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nông Văn N.
Về con chung: Chị và anh Nông Văn N có 02 con chung là Nông Bích L, sinh ngày 22/9/2014 và Nông Hoài A, sinh ngày 23/5/2022. Hiện nay cả hai con vẫn do chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, các con khỏe mạnh và phát triển bình thường. Do điều kiện công việc bận nên gần đây chị có nhờ ông bà nội (bố mẹ anh N) hỗ trợ, trông nom giúp các con. Ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con vì anh N đang đi cai nghiện ma túy, không thể nuôi con được.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do công việc bận, việc xin nghỉ khó khăn nên chị đề nghị được vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; các phiên hòa giải và tại phiên tòa xét xử vụ án.
Tại bản tự khai, bị đơn là anh Nông Văn N trình bày:
Anh và chị Hà Thị D kết hôn vào ngày 22 tháng 3 năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, đã ly thân nhau hơn 01 năm nay. Việc chị D xin ly hôn thì anh nhất trí.
Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có hai con chung là Nông Bích L, sinh ngày 22/9/2014 và Nông Hoài A, sinh ngày 23/5/2022. Anh đề nghị Tòa án giải quyết giao vợ chồng mỗi người nuôi một con, cụ thể giao cháu Nông Bích L cho anh trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Nông Hoài A cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về các vấn đề khác anh nhất trí ý kiến của chị D, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do hiện nay anh đang bị quản lý tại cơ sở cai nghiện ma túy nên anh đề nghị được vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; các phiên hòa giải và tại phiên tòa xét xử vụ án.
Tại biên bản ghi lời khai, cháu Nông Bích L trình bày:
Cháu là con của mẹ Hà Thị D và bố là Nông Văn N. Hiện nay cháu đang học tại trường Tiểu học T (xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang). Hiện tại cháu đang ở cùng với mẹ D, cháu khoẻ mạnh, phát triển bình thường. Cháu có biết việc bố mẹ không ở cùng với nhau, nhưng nguyên nhân vì sao thì cháu không biết. Cháu có nguyện vọng được ở với cả bố và mẹ nhưng nếu bố mẹ không ở với nhau nữa thì cháu muốn được ở cùng mẹ.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm phát biểu ý kiến:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán và Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hà Thị D được ly hôn anh Nông Văn N.
- Về con chung: Giao chị Hà Thị D là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con là Nông Bích L, sinh ngày 22/9/2014 và Nông Hoài A, sinh ngày 23/5/2022. Anh Nông Văn N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ chung: Do đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Chị Hà Thị D là nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị D đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng (nay là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang), tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng:
Chị Hà Thị D là người có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc “Ly hôn, nuôi con chung” với anh Nông Văn N. Bị đơn anh Nông Văn N là người có địa chỉ cư trú tại thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập hợp lệ cho nguyên đơn và bị đơn theo quy định. Đến nay nguyên đơn là chị Hà Thị D và bị đơn là anh Nông Văn N đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị D và anh N.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân:
Hà Thị D và anh Nông Văn N kết hôn với nhau vào ngày 22/3/2013 trên tinh thần tự nguyện, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang (Giấy chứng nhận kết hôn số 26/2013; quyển số 01-2013 do UBND xã T cấp ngày 22/3/2013). Do vậy xác định quan hệ giữa chị Hà Thị D và anh Nông Văn N là hôn nhân hợp pháp.
[3.2] Về mâu thuẫn vợ chồng:
Căn cứ tài liệu xác minh, thu thập trong hồ sơ cho thấy: Khoảng đầu năm 2023, chị D và anh N phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hòa hợp nên chị D chuyển ra ngoài sống ly thân với anh N. Bên cạnh đó cũng vì từ tháng 4/2024 anh N bị bắt đi cai nghiện ma túy tập trung tại Cơ sở cai nghiện ma túy N1 (thành phố Hồ Chí Minh), từ đó đến nay vợ chồng không quan tâm, thăm hỏi gì nhau, cắt đứt mọi quan hệ tình cảm.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị D và anh N là có thật vì lời khai của cả hai bên đều thừa nhận nội dung này. Nay cả chị D và anh N cùng xác định không còn tình cảm, chị D xin ly hôn, anh N nhất trí. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị D và anh N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Do vậy, xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D để xử cho chị D được ly hôn với anh N là phù hợp quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3.3] Về con chung:
Chị Hà Thị D và anh Nông Văn N có hai con chung là Nông Bích L, sinh ngày 22/9/2014 và Nông Hoài A, sinh ngày 23/5/2022. Hiện các con đang do chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và các con đều khỏe mạnh, phát triển bình thường. (thời điểm Tòa án xác minh do chị D bận đi làm nên giao các con cho ông bà nội hỗ trợ, trông nom giúp các con). Nay ly hôn chị D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả hai con, trong khi anh N có nguyện vọng giao cho mỗi người nuôi một con, cụ thể anh N muốn được nuôi con Nông Bích L, sinh ngày 22/9/2014 còn để chị D nuôi con Nông Hoài A, sinh ngày 23/5/2022.
Hội đồng xét xử xét thấy nguyện vọng được nuôi con của cả chị D và anh N đều là chính đáng, nhưng do chị D và anh N không thỏa thuận được về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, nên cần căn cứ quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 để giải quyết tranh chấp này.
Tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con ...
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.
Xét thấy cháu Nông Bích L có lời khai muốn được ở với mẹ, cháu Nông Hoài A hiện dưới 36 tháng tuổi. Các cháu đều là nữ nên rất cần có sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ, chị D mặc dù công việc xa nhà nhưng chị là người duy nhất có điều kiện để chăm sóc, nuôi dậy các con của mình. Mặt khác hiện nay anh Nông Văn N vẫn đang trong thời gian đi cai nghiện bắt buộc tại thành phố Hồ Chí Minh, anh N không đủ điều kiện để trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con theo quy định tại Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình. Do vậy, không thể giao con cho anh N nuôi dưỡng được mà cần giao cả hai con chung cho chị Hà Thị D (mẹ đẻ) là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi ly hôn là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Trường hợp sau khi ly hôn, anh N và chị D có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc khi đã có đủ điều kiện để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh N có quyền đề nghị Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình. (Tòa án sẽ xem xét, giải quyết đối với yêu cầu của anh N bằng một vụ án khác).
[3.4] Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ chung:
Do chị Hà Thị D và anh Nông Văn N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về án phí:
Chị Hà Thị D là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.
[5] Về quyền kháng cáo:
Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 9, 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 180; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hà Thị D được ly hôn anh Nông Văn N.
- Về con chung: Giao chị Hà Thị D là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung là Nông Bích L, sinh ngày 22/9/2014 và Nông Hoài A, sinh ngày 23/5/2022.
- Về án phí: Chị Hà Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị D đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005369 ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng (nay là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang), tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Hà Thị D đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Anh Nông Văn N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thái Sơn |
Bản án số 27/2025/HNGĐ-ST ngày 26/03/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 27/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu cho ly hôn
