TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST Ngày 24/3/2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Khoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Phương Dung;
Ông Kim Niệm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phúc Vĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 459/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1994; địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Mai Đức T, sinh năm 1993; địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Bà N và ông Mai Đức T chung sống với nhau từ năm 2017, trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương. Cuộc sống vợ chồng trong thời gian đầu có hạnh phúc nhưng sau đó thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên cải nhau, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, ông T thường xuyên uống rượu, sau đó về chửi bới vợ con, ông T không lo làm ăn, không phụ giúp bà N về kinh tế gia đình. Ông bà đã sống ly thân với nhau từ tháng 9/2024 đến nay. Xét thấy, mâu thuẫn gia đình đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn nên bà N xin được ly hôn với ông Mai Đức T.
2
Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông bà có 01 con chung là Mai Trần Đức K, sinh ngày 03/02/2018, hiện con chung đang sống cùng với ông T. Khi ly hôn bà N xin nhường quyền nuôi con chung tên Mai Trần Đức K, sinh ngày 03/02/2018 cho ông T. Bà N không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai bị đơn ông Mai Đức T trình bày:
- Về hôn nhân: Ông và bà Trần Thị N chung sống với nhau từ năm 2017, trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương. Cuộc sống vợ chồng trong thời gian đầu có hạnh phúc nhưng sau đó đến khoảng đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cải nhau về vấn đề kinh tế, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Hiện tại ông bà đã sống ly thân với nhau. Xét thấy, mâu thuẫn gia đình đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn nên bà N xin ly hôn thì ông đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông bà có 01 con chung là Mai Trần Đức K, sinh ngày 03/02/2018, con chung hiện đang sống cùng với ông. Khi ly hôn, ông T xin được nuôi con chung, không yêu cầu bà N phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký và việc chấp hành pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp, bà N trình bày quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn được, bà N kiên quyết ly hôn, ông T đồng ý ly hôn nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị N đối với ông Mai Đức T; về con chung: Bà N nhường quyền nuôi con chung Mai Trần Đức K, sinh ngày 03/02/2018 cho ông T nuôi dưỡng, ông T đồng ý nuôi con nên đề nghị HĐXX giao con chung Mai Trần Đức K cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, ông T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị HĐXX ghi nhận; về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát về thủ tục tố tụng, về nội dung vụ án HĐXX nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án xin ly hôn mà bị đơn cư trú tại ấp C, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương và nguyên đơn đề nghị Tòa án
3
nhân dân huyện Phú Giáo giải quyết. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
[2] Về sự vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn: Nguyên đơn bà Trần Thị N và bị đơn ông Mai Đức T có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về hôn nhân: Bà Trần Thị N và ông Mai Đức T là những người có đủ điều kiện kết hôn, chung sống vợ chồng với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà N trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên cải nhau, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, hiện tại ông bà đã sống ly thân với nhau. Ông T thừa nhận vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cải nhau về vấn đề kinh tế, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Hiện tại ông bà đã sống ly thân với nhau.
[4] HĐXX xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn bà Trần Thị N và bị đơn ông Mai Đức T đã trầm trọng, không thể hàn gắn. Nguyên đơn xin ly hôn là hoàn toàn tự nguyện và có căn cứ, bị đơn cũng đồng ý ly hôn nên HĐXX chấp nhận cho nguyên đơn và bị đơn ly hôn theo quy định tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Về con chung: Căn cứ vào lời khai của đương sự, bản sao giấy khai sinh, xác định nguyên đơn và bị đơn có 01 con chung là Mai Trần Đức K, sinh ngày 03/02/2018, hiện con đang sống cùng ông T, bà N nhường quyền nuôi con chung cho ông T, ông T đồng ý nuôi con nên HĐXX quyết định giao con chung Mai Trần Đức K cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Ông T không yêu cầu bà N phải cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX ghi nhận.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ nên HĐXX xem xét chấp nhận.
[8] Về án phí sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 9, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
4
- - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị N đối với bị đơn ông Mai Đức T về việc “Tranh chấp ly hôn”.
- Về hôn nhân: Bà Trần Thị N được ly hôn với ông Mai Đức T.
- Về con chung: Giao con chung Mai Trần Đức K, sinh ngày 03/02/2018 cho ông Mai Đức T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông T về việc không yêu cầu bà N phải cấp dưỡng nuôi con.
Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung của bà Trần Thị N. Vì quyền lợi hợp pháp, chính đáng của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi đương sự có đơn yêu cầu theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp trước đây theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006709 ngày 12/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Khoa |
Bản án số 27/2025/HNGĐ-ST ngày 24/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 27/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
