|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2025/HNGĐ -ST
Ngày: 21-10-2025
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Lan Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Huyền và Ông Trần Ánh Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Đức Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Chi nhánh Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 124/2025/TLST-HNGĐ ngày 29/5/2025 về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/9/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13/10/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Diệu L, sinh năm 1991; CCCD số [...], cấp ngày 28/9/2021; Nơi cư trú: Tiểu khu H, xã L, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Bảo D, sinh năm 1988; CCCD số [...], cấp ngày 27/6/2021; Nơi cư trú: Tiểu khu H, xã L, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình cung cấp chứng cứ, nguyên đơn chị Lê Thị Diệu L trình bày:
Chị và anh Nguyễn Bảo D kết hôn với nhau ngày 12/12/2012 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình ( nay là UBND xã L, tỉnh Phú Thọ). Quá trình chung sống do bất đồng quan điểm sống và khác biệt về tính cách nên vợ chồng thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng từ đầu năm 2025 không thể khắc phục được. Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay không quan tâm đến nhau. Chị không còn thương yêu anh D, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Bảo D.
Về con chung: Vợ chồng chị có hai con chung tên Nguyễn Nhật M, sinh ngày 08/12/2013 và Nguyễn Bảo V, sinh ngày 14/3/2023. Được Tòa giải quyết cho ly hôn chị xin được hai nuôi con vì hiện nay các con đang sống cùng chị, thu nhập của chị một tháng từ 15.000.000 - 20.000.000 đồng có chỗ ở ổn định đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng các con. Chưa yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung, công nợ chung: không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, biên bản tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn, anh Nguyễn Bảo D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận anh và chị L tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau vào năm 2012, có đăng kí kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình ( nay là UBND xã L, tỉnh Phú Thọ). Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2025 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng trong quan điểm, lối sống, một phần do kinh tế nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 01/2025 đến nay không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay chị L có đơn yêu cầu ly hôn, anh D không đồng ý ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị L được đoàn tụ.
Vợ chồng anh chị có hai con chung tên Nguyễn Nhật M, sinh ngày 08/12/2013 và Nguyễn Bảo V, sinh ngày 14/3/2023. Nếu phải ly hôn anh xin được nuôi con Nguyễn Nhật M, chị L nuôi con Nguyễn Bảo V, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Về tài sản chung, công nợ chung: không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Theo đơn đề nghị của nguyên đơn - chị Lê Thị Diệu L
Tòa án nhân dân khu vực 13- Phú Thọ xác minh được như sau:
Tại biên bản xác minh ngày 08/9/2025, ông Nguyễn Văn H - bố đẻ anh Nguyễn Bảo D cho biết con trai ông là Nguyễn Bảo D kết hôn với chị Lê Thị Diệu L ngày 12/12/2012 tại UBND thị trấn L. Thời gian đầu vợ chồng Linh D1 chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2024 thì xẩy ra mâu thuẫn, cãi vã, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm lối sống và một phần do anh D1 không tu chí làn ăn. Vợ chồng Linh D1 sống ly thân từ tháng 02/2025 đến nay, D1 sống cùng gia đình còn L về nhà bố mẹ đẻ sống . Nay L đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với D1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản xác minh ngày 10/9/2025, bà Lê Thị Thu H1 - mẹ đẻ Lê Thị Diệu L cho biết năm 2012 chị L và anh D1 kết hôn có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng Linh D1 chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2025 thì L đưa con về ở cùng với ông bà. Theo bà được biết nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng Linh D1 là do D1 không tu chí làm ăn, không quan tâm đến vợ con. Bà đề nghị Tòa án căn cứ vào mâu thuẫn của vợ chồng Linh D1 để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Trường hợp chị L nuôi cả hai con thì bà đồng ý cho mẹ con chị L sống cùng gia đình bà.
* Phát biểu tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên cho rằng Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình ( nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ) thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, có căn cứ, đúng pháp luật. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự và giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật đúng theo quy định của pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử thẩm tra, xem xét công khai tại phiên tòa. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa lần thứ nhất đã tống đạt cho các đương sự theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do tại các phiên tòa, như vậy bị đơn anh Nguyễn Bảo D đã thực hiện không đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung đề nghị HĐXX:
Áp dụng điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điểu 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Diệu L.
- + Xử cho chị Lê Thị Diệu L được ly hôn anh Nguyễn Bảo D.
- + Về con chung: Giao cho chị Lê Thị Diệu L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Nhật M, sinh ngày 08/12/2013 và Nguyễn Bảo V, sinh ngày 14/3/2023., cho đến khi cháu M, cháu V trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Bảo D chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L. Anh Dũng có quyền thăm con chung sau ly hôn, không ai được cản trở quyền này. Chị L và anh D có quyền thay đổi người nuôi con sau ly hôn và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- + Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- + Về công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- + Về án phí: Chị Lê Thị Diệu L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Diệu L xin ly hôn anh Nguyễn Bảo D có HKTT: Tiểu khu H, xã L, tỉnh Phú Thọ, Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Phiên tòa ngày 21/10/2025 anh Nguyễn Bảo D vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh D.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Diệu L và anh Nguyễn Bảo D kết hôn với nhau ngày 12/12/2012 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình ( nay là UBND xã L, tỉnh Phú Thọ) nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Chị L trình bày quá trình chung sống do bất đồng quan điểm sống và khác biệt về tính cách nên vợ chồng thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn. Anh chị sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay đến nay không quan tâm đến nhau. Chị không còn thương yêu anh D, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Bảo D.
Quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, anh Nguyễn Bảo D tại bản tự khai, tại phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải xác nhận thời gian điều kiện kết hôn như chị L trình bày là đúng. Mâu thuẫn vợ chồng anh là bất đồng trong quan điểm, lối sống một phần do kinh tế. Anh D2 xác nhận vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay không quan tâm đến nhau. Nay chị L có đơn yêu cầu ly hôn, anh không đồng ý ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị L được đoàn tụ với nhau.
Hội đồng xét xử xét thấy chị L và anh D2 sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay không quan tâm đến nhau, chị L không còn thương yêu anh D2, chị cương quyết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D2. Anh D2 xác nhận vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay, không quan tâm đến nhau như chị L trình bày, nhưng anh D2 không đồng ý ly hôn, đề nghị tòa án giải quyết cho anh và chị L được đoàn tụ. Tuy nhiên anh D2 không có biện pháp để khắc phục mâu thuẫn gia đình, anh và chị L sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay nhưng anh không làm gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng, anh liên tiếp vắng mặt tại các phiên tòa, cuộc sống chung của anh chị không còn tồn tại. Như vậy hôn nhân giữa chị L và anh D2 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, 57,58 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Lê Thị Diệu L và anh Nguyễn Bảo D được ly hôn.
[2.2] Về nuôi con chung: Vợ chồng chị có hai con chung tên Nguyễn Nhật M, sinh ngày 08/12/2013 và Nguyễn Bảo V, sinh ngày 14/3/2023. Được Tòa giải quyết cho ly hôn chị L xin được hai nuôi con vì hiện nay các con đang sống cùng chị, thu nhập của chị một tháng từ 15.000.000 - 20.000.000 đồng có chỗ ở ổn định đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng các con, chưa yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Quá trình giải quyết tại Tòa án, anh D nhận nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Nhật M, chị L nuôi con Nguyễn Bảo V, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung chung cho nhau.
Hội đồng xét xử xét thấy nguyện vọng nuôi con của anh D, chị L là chính đáng, thể hiện tinh thần trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái. Tuy nhiên tại biên bản lấy lời khai đề ngày 10/9/2025 cháu M có nguyện vọng ở với mẹ, anh D lại vắng mặt tại phiên tòa nên không thể giao cháu M cho anh D nuôi dưỡng. Chị L là cán bộ Ngân hàng thu nhập một tháng từ 15.000.000 đồng – 20.000.000 đồng, có chỗ ở ổn định, hai cháu M, V hiện nay đang ở cùng chị L, cháu V là con gái lại còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ nhiều hơn, cháu M có nguyện vọng ở với mẹ. Căn cứ vào Điều 81, 82,83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cho chị Lê Thị Diệu L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Nhật M, sinh ngày 08/12/2013 và Nguyễn Bảo V, sinh ngày 14/3/2023 cho đến khi cháu M, cháu V trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Bảo D chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L và có quyền thăm con chung sau ly hôn, không ai được cản trở quyền này. Chị L và anh D có quyền thay đổi người nuôi con, mức cấp đưỡng nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật
[2.3] Về tài sản chung: Không có và chị L không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.4] Về công nợ chung: Không có và chị L không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.5] Về án phí: Chị Lê Thị Diệu L phải nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016//UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Diệu L:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Diệu L được ly hôn anh Nguyễn Bảo D.
- Về con chung: Giao cho chị Lê Thị Diệu L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Nhật M, sinh ngày 08/12/2013 và Nguyễn Bảo V, sinh ngày 14/3/2023 cho đến khi cháu M, cháu V trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Bảo D chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L và có quyền thăm con chung sau ly hôn, không ai được cản trở quyền này. Chị L và anh D có quyền thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Chị Lê Thị Diệu L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005294 ngày 29 tháng 5 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình ( Nay thuộc Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ).
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thười hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Chu Thị Lan Anh |
Bản án số 27/2025/HNGĐ -ST ngày 21/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – PHÚ THỌ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 27/2025/HNGĐ -ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/10/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị L xinh ly hôn anh D
