|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 21/3/2025
V/v “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – TP CẦN THƠ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Việt Thắng
- - Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Thái Ánh Trinh
- Bà Trần Thúy Kiên
- - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 142/2024/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự :
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh L - sinh năm 1991;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Bà Bu Thị Trà M - sinh năm 2000;
Địa chỉ: Khu V T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 02)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 6 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Minh L trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Minh L và bà Bu Thị Trà M thông qua mai mối rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ vào ngày 13/12/2018 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 86/2018. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống chung bên gia đình chồng. Tuy nhiên sau khi sống chung khoảng 02 tháng thì bà M cho rằng vợ chồng không thể sống chung được nữa và bỏ về nhà cha mẹ ruột sống. Ông L có tìm gặp bà M để hàn gắn tình cảm tuy nhiên bà M không đồng ý và tiếp tục bỏ nhà cha mẹ ruột để đi nơi khác sống. Nay nhận thấy cuộc hôn nhân với bà M không còn hạnh phúc nên ông L xin ly hôn.
- - Về con chung: Ông L trình bày quá trình chung sống, ông và bà M không có con chung.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật đối với bà Bu Thị Trà M theo quy định, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án bà M vắng mặt không rõ lý do.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông Nguyễn Minh L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn bà Bu Thị Trà M vắng mặt lần thứ 02 không rõ lý do.
Đại viện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn do có cơ sở.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nhận thấy, hôn nhân giữa ông Nguyễn Minh L và bà Bu Thị Trà M tuy thông qua mai mối nhưng các bên tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Thời gian chung sống do không hạnh phúc nên ông L xin ly hôn. Đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo xác nhận thông tin về cư trú ngày 13/3/2025 của Công an phường T thì bà Trà M có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt lần thứ 02 không rõ lý do, Hội đồng xét xử căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.
[3] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Ông L cho rằng sau khi cưới khoảng 02 tháng thì bà M bỏ nhà đi, ông L nhiều lần tìm gặp bà M để tìm hiểu nguyên nhân mâu thuẫn và tìm cách hàn gắn tình cảm, tuy nhiên bà M cố tình trốn tránh.
Đối với bà Bu Thị Trà M, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay đều vắng mặt không rõ lý do. Qua đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn tình cảm nên bà M đã bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân để cho ông L tự mình giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, ông L xác định hôn nhân không còn hạnh phúc và ông đã không còn tình cảm với bà M nên cương quyết xin ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên. Do đó, căn cứ theo Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp.
[4] Xét về con chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Do ông L trình bày không có và không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ giải quyết thành vụ án khác.
[6] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Minh L phải chịu án phí là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[7] Xét ý kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 5; 28; 35; 39; 147; 207; 227; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Nghị quyết Số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, qản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Nguyễn Minh L và bà Bu Thị Trà M.
- Về con chung: Không có, không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Nếu sau này phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung sẽ giải quyết thành một vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Minh L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0005652 ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ. Công nhận ông L đã nộp xong án phí.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Việt Thắng |
Bản án số 27/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – TP CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 27/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – TP CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
