Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST

Ngày 21-3-2025

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Thành và bà Bùi Thị Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Luyện - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 21/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 13/2025/TLST-HNGĐ ngày 22/01/2025, về tranh chấp: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/02/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Quỳnh N; tên khác Phạm Thị N, sinh năm 1977; bà N đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Ông Phạm Trung H, sinh năm 1974, có mặt.

Đều có địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà N trình bày: Bà và ông H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 10/02/1997 tại Ủy ban nhân dân xã A là xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương. Khi còn chung sống, vợ chồng nhiều lần phát sinh mâu thuẫn, đến nay đã trầm trọng. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hợp tính nết, ông H nghiện ma tuý. Hiện tại vợ chồng bà đã sống ly thân (14 năm) và bỏ mặc nhau. Nay, bà N xác định tình cảm, tình nghĩa vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị được ly hôn ông H.

Về con chung: Bà và ông H có hai con là chị Phạm Thị Y, sinh ngày 08/02/1998; anh Phạm Trung L, sinh ngày 09/02/2003. Khi ly hôn, do các con đã đủ 18 tuổi, không bị nhược điểm thể chất, tâm thần kinh, nên bà N không yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng các con.

Về tài sản, công sức, nợ: Bà N không yêu cầu giải quyết.

1

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà, bị đơn ông H trình bày: Về thời điểm chung sống, thời điểm kết hôn như lời trình bày của bà N. Ông H xác định trong quá trình chung sống, vợ chồng không có mâu thuẫn như bà N khai nhận, nếu có chỉ là những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống thường ngày. Do điều kiện kinh tế, bà N đi làm ở xa nên vợ chồng không chung sống cùng nhau; trong thời gian nói trên bà N không không quan tâm tới ông và gia đình. Nay bà N xin ly hôn, ông H xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng ông có hai con như bà N trình bày. Khi ly hôn, do chị Y, anh L đã đủ 18 tuổi, không bị nhược điểm thể chất, tâm thần kinh, nên bà không yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng.

Về tài sản, công sức, nợ: Ông H không yêu cầu giải quyết.

Tòa án đã tiến hành lấy lời khai người thân thuộc trong gia đình đương sự và xác minh tại địa phương thể hiện: Bà N, ông H là vợ chồng, khi còn chung sống đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng; gia đình đã khuyên bảo nhưng không thành và đã sống ly thân, bỏ mặc nhau. Nay các bên đương sự ly hôn, người thân thuộc trong gia đình đương sự và chính quyền địa phương đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 39 của Bộ luật Dân sự. Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị, xử: Bà N ly hôn ông H; bà N phải chịu án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định.

[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà N đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà N, ông H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 10/02/1997 tại Ủy ban nhân dân xã A là xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương, được xác định là hôn nhân hợp pháp. Về tình trạng hôn nhân của các bên đương sự, Hội đồng xét xử thấy: Quá trình chung sống bà N và ông H có phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hợp tính nết, không bảo ban nhau được trong cuộc sống thường ngày, đồng thời không còn sự tin tưởng, tôn trọng nhau. Quá trình giải quyết vụ án, bà N xác định vợ chồng đã sống ly thân đến nay hơn 14 năm, do đó tình cảm, tình nghĩa vợ chồng không còn, nên kiên quyết yêu cầu được ly hôn ông H. Ông H xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, mong muốn bà N về đoàn tụ, nhưng chính ông H cũng không đưa ra được biện pháp nào để cải thiện tình trạng hôn nhân với bà N. Theo chính quyền địa phương, người thân thuộc trong gia

2

đình của đương sự xác định, mâu thuẫn giữa hai bên đương sự đã trầm trọng và không còn khả năng đoàn tụ hôn nhân. Vì vậy, từ những căn cứ như đã nêu ở trên, chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà N, ông H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của đương sự, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xử bà N được ly hôn ông H.

[3]. Về quan hệ con chung: Xác định bà N, ông H có hai con là chị Phạm Thị Y, sinh ngày 08/02/1998; anh Phạm Trung L, sinh ngày 09/02/2003. Khi ly hôn, do các con chung của đương sự đã đủ 18 tuổi, không bị nhược điểm thể chất, tâm thần kinh, nên Hội đồng xét xử không giải quyết việc nuôi dưỡng.

[4]. Về quan hệ tài sản, công sức, nợ: Đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì bà N phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 147, 229, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Quỳnh N, tên gọi khác Phạm Thị N ly hôn ông Phạm Trung H.
  2. Về án phí: Bà Phạm Thị Quỳnh N, tên gọi khác Phạm Thị N phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án ký hiệu số 0001907 ngày 21/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bị đơn ông H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 27/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Quỳnh Nga - Phạm Trung Huy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger