Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ KIM BẢNG

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HNGĐ - ST

Ngày 19-6-2025

V/v tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thạo.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Vũ Thị Tình.
  2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hải - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Ngô Đức Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2025/TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025 về “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ dân phố X, phường T thị xã K, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Đồng T, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ dân phố X, phường T, thị xã K, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Vũ Thị H trình bày: Bà kết hôn với ông Trần Đồng T trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 12/01/1994 tại Uỷ ban nhân dân xã Nhật Tân, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là phường Tân Tựu, thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam). Sau ngày kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ

chồng không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống cũng như trong làm ăn kinh tế gia đình; bên cạnh đó ông T thường xuyên say rượu rồi chửi bới gia đình, con cái, thậm chí có những lời xúc phạm đến chính bố mẹ đẻ của ông T, khi bà khuyên can thì ông T đánh đập bà thậm tệ. Sau mỗi lần xảy ra mâu thuẫn căng thẳng bà thường bỏ về nhà bố mẹ đẻ hoặc đi thuê nhà ở riêng. Từ ngày 14/02/2025 cho đến nay bà đã đi thuê nhà ở riêng chỗ khác, ông bà ly thân và chấm dứt quan hệ vợ chồng từ đó không ai còn quan tâm đến tình cảm, cuộc sống của nhau nữa. Mặc dù mâu thuẫn của ông bà đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Nay bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Trần Đồng T.

Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Trần Đồng T trình bày: Về thời gian, điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa ông với bà Vũ Thị H và thời điểm vợ chồng sống ly thân đúng như bà H đã trình bày. Tuy nhiên, ông T xác định tình cảm vợ chồng giữa ông với bà H vẫn còn nên ông không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Bà H và ông T thống nhất xác định vợ chồng ông bà có 02 con chung là Trần Thị Tr, sinh ngày 18/10/1995 và Trần Đồng D, sinh ngày 22/4/1997. Hiện nay cả hai con đều đã trưởng thành và lập gia đình riêng nên ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về con riêng: Bà H và ông T đều xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức đóng góp, công nợ, đất nông nghiệp: Bà H và ông T thống nhất không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án, xác định tư cách đương sự đều đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Hóa. Xử ly hôn giữa bà Vũ Thị H và ông Trần Đồng T. Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn là bà Vũ Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là ông Trần Đồng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Vũ Thị H và ông Trần Đồng T là hợp pháp, ông bà đăng ký kết hôn với nhau ngày 12/01/1994 tại Ủy ban nhân dân xã Nhật Tân, huyện Kim Bảng (nay là phường Tân Tựu, thị xã Kim Bảng), tỉnh Hà Nam. Sau ngày kết hôn ông bà chung sống hòa thuận chỉ được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Ngoài ra, ông T thường xuyên uống rượu say rồi chửi bới gia đình và đánh đập bà H, từ đó dẫn đến tình trạng vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn căng thẳng, nặng nề. Nay bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết xin ly hôn ông T. Còn ông T mặc dù không đồng ý ly hôn nhưng ông cũng xác định mâu thuẫn vợ chồng xảy ra và ông bà đã ly thân nhau là thực tế. Theo xác minh tại địa phương thì trong quá trình chung sống vợ chồng giữa bà H và ông T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn như ông bà đã trình bày là thực tế. Như vậy, chứng tỏ hôn nhân giữa bà H và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, xử cho bà H được ly hôn ông T là hoàn toàn phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Bà H và ông T có 02 con chung là Trần Thị Tr, sinh ngày 18/10/1995 và Trần Đồng D, sinh ngày 22/4/1997. Hiện nay cả hai con đều đã trưởng thành và lập gia đình riêng, ông bà không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về con riêng: Bà H và ông T không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung, tài sản riêng; công nợ; công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp: Bà H và ông T cùng thống nhất không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Xử cho ly hôn giữa bà Vũ Thị H và ông Trần Đồng T.
  2. Án phí: Bà Vũ Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000280 ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. (Bà H đã thi hành xong phần án phí ly hôn sơ thẩm).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND thị xã Kim Bảng;
  • - Chi cục THADS thị xã Kim Bảng;
  • - UBND phường Tân Tựu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Thạo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HNGĐ - ST ngày 19/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 27/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do vợ chồng mâu thuẫn nên bà H khởi kiện xin ly hôn ông T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger