|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
Mẫu số 52-DS CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST
Ngày 19 tháng 02 năm 2025
V/v “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa và ông Phạm Ngọc Nguyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Bà Trần Yến Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 714/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị H, sinh năm: 1992. Địa chỉ: số H khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. ĐT: 0977.143.xxx (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Tô Hoàng T, sinh năm: 1990. Địa chỉ: số H khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. ĐT: 0932.833.xxx (vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Võ Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị H và ông Tô Hoàng T tự nguyện quen biết tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang vào ngày 01/6/2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên bất đồng quan điểm dẫn đến cự cãi. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu ly hôn với ông T.
Về con chung: quá trình chung sống có 02 (hai) con chung tên Tô Hoàng P, sinh ngày: 04/8/2020 và Tô Hoàng Thùy A, sinh ngày: 06/02/2023. Hiện con chung đang sống cùng bà H, sau khi ly hôn, bà H yêu cầu tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Tô Hoàng T không có văn bản trình bày ý kiến, không tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hòa giải cũng như không tham dự phiên tòa do Tòa án triệu tập.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Võ Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Tô Hoàng T được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai, không có lý do và không tham gia phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và còn phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Nguyên đơn, bị đơn tự nguyện tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn là có cơ sở theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận; Về con chung: có 02 (hai) con chung tên Tô Hoàng P, sinh ngày: 04/8/2020 và Tô Hoàng Thùy A, sinh ngày: 06/02/2023. Hiện con chung đang sống cùng bà H, sau khi ly hôn, bà H yêu cầu tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung. Để đảm bảo ổn định về tinh thần cũng như đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung nên đề nghị chấp nhận giao con chung cho bà H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về cấp dưỡng: căn cứ Điều 107, 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: buộc ông T cấp dưỡng nuôi 02 con chung theo quy định pháp luật cho đến khi trưởng thành; Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Võ Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Tô Hoàng T. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.
[2] Tại biên bản xác minh tình trạng cư trú ngày 24/12/2024, Công an phường M, thành phố L xác nhận: Đương sự Tô Hoàng T, sinh năm 1990, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số H khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp, niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn hợp lệ nhưng bị đơn đã từ chối các quyền, cũng như không thực hiện nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Nguyên đơn bà Võ Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Tô Hoàng T mặc dù được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng ông T vẫn không tham dự phiên tòa. Do đó, căn cứ vào Điều 227, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
- Về nội dung tranh chấp:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông T quen biết nhau, có thời gian yêu thương, tìm hiểu và tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là phù hợp Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Khi vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống. Trong quá trình giải quyết vụ án bà H xác định không còn tình cảm với ông T, giữa vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được nên bà H cương quyết yêu cầu ly hôn, ông T cũng không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà H.
Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, bà H xác định không thể tiếp tục chung sống cùng với ông T, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, giữa vợ chồng không còn thực hiện các quyền và nghĩa vụ cũng như không cố gắng hàn gắn, duy trì cuộc sống hôn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: có 02 con chung tên Tô Hoàng P, sinh ngày: 04/8/2020 và Tô Hoàng Thùy A, sinh ngày: 06/02/2023. Hiện con chung đang sống cùng bà H, sau khi ly hôn, bà H yêu cầu tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung.
Xét thấy, trong thời gian bà H và ông T sống ly thân thì hai con chung đều do bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, các cháu vẫn phát triển tốt về mọi mặt. Vì vậy, nhằm để ổn định cuộc sống của cháu P và cháu Thùy A không bị ảnh hưởng tâm sinh lý về việc cha, mẹ ly hôn và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung. Mặt khác, trong quá trình giải quyết ông T không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu của bà H về việc giao 02 con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Tô Hoàng P, sinh ngày: 04/8/2020 và Tô Hoàng Thùy A, sinh ngày: 06/02/2023 cho bà Võ Thị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng là chính đáng và có cơ sở theo quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Về cấp dưỡng: theo quy định pháp luật, sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tại đơn khởi kiện bà H yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử nhận thấy, căn cứ theo khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì “...mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con” và Điều 3 Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính Phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động thì mức lương tối thiểu của thành phố L thuộc vùng II là 4.410.000 đồng/tháng.
Xét thấy, trách nhiệm làm cha mẹ là nghĩa vụ chung của hai vợ chồng, do đó để đảm bảo điều kiện sinh hoạt, phát triển và học tập bình thường của 02 con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng của bà H, buộc ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 4.410.000 đồng/tháng/02 con chung (tức là 2.205.000 đồng/tháng/con chung), kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi 02 cháu P và Thùy A đủ 18 tuổi có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi sống bản thân, trừ trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật. Mức cấp dưỡng được điều chỉnh theo từng thời điểm do pháp luật quy định.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: ghi nhận ý kiến của bà H trình bày không có nên không đề cập giải quyết.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ông T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 235; Điều 266; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84; Điều 107; Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình 2014;
- Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Võ Thị H đối với ông Tô Hoàng T.
[2] Về con chung: Giao 02 (hai) con chung tên Tô Hoàng P, sinh ngày: 04/8/2020 và Tô Hoàng Thùy A, sinh ngày: 06/02/2023 cho bà Võ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành.
Ông Tô Hoàng T không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông T thực hiện quyền này.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc ông Tô Hoàng T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Tô Hoàng P, sinh ngày: 04/8/2020 và Tô Hoàng Thùy A, sinh ngày: 06/02/2023, mỗi tháng là 4.410.000 (bốn triệu, bốn trăm mười nghìn) đồng/tháng/02 con chung kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi sống bản thân, trừ trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật. Mức cấp dưỡng được điều chỉnh theo từng thời điểm do pháp luật quy định.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001997 ngày 24/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà H đã nộp xong.
Ông Tô Hoàng T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con với số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Dung |
Bản án số 27/2025/HNGĐ-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 27/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hiếu - Thanh
