trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VĨNH YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST

Ngày 18-6-2025

V/v “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Thu Hằng

Bà Nguyễn Thị Thanh Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Lê Bảo Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 340/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Dương Thị T, sinh năm 1995 (có mặt);

Bị đơn: Anh Phạm Gia S, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Đều ở địa chỉ: Tổ dân phố C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 30 tháng 12 năm 2024 và những lời khai tiếp theo và tại phiên tòa nguyên đơn chị Dương Thị T trình bày: Chị kết hôn với anh Phạm Gia S ngày 21/01/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Đ (nay là phường Đ), thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Trước khi kết hôn, hai bên được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn. Sau ngày cưới, chị về làm dâu và sống chung với gia đình anh S. Quá trình chung sống, thời gian đầu tình cảm vợ chồng bình thường đến tháng 9/2020 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày và làm ăn kinh tế, anh S không chịu làm ăn chơi bời cờ bạc, nhiều lần cầm cố xe máy và điện thoại của chị T, vợ chồng nhiều lần cãi nhau có lần đánh nhau. Tháng 10/2024 vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng, chị T bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân chấm dứt quan hệ tình cảm cho đến nay. Hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải giữa chị T và anh S để vợ chồng chị về đoàn tụ nhưng không đạt kết quả. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S.

Bị đơn anh Phạm Gia S tại phiên tòa vắng mặt nhưng tại bản tự khai anh S trình bày: Anh xác nhận thời gian kết hôn, quá trình chung sống, thời gian mâu thuẫn, thời gian vợ chồng sống ly thân như chị T trình bày là đúng. Tuy nhiên về nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống và làm ăn kinh tế, vợ chồng không có tiếng nói chung. Tại bản tự khai anh S xác định tình cảm vợ chồng không còn và đồng ý ly hôn. Tại phiên hòa giải ngày 07/5/2025 anh S xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn và xin đoàn tụ.

Về con chung: Chị T và anh S có 03 con chung là cháu Phạm Gia Bảo A, sinh ngày 14/11/2015, Phạm gia Bảo K, sinh ngày 19/12/2017 và cháu Phạm Bảo T1, sinh ngày 23/9/2020, hiện nay cháu K và cháu T1 đang ở với chị T, cháu A đang ở với anh S.

Ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi cháu K và cháu T1, để anh S nuôi cháu A. Tại bản tự khai anh S yêu cầu được nuôi cháu A. Về cấp dưỡng nuôi con hai bên không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Hiện chị T đang làm công nhân tại Công ty E, thu nhập trung bình là 7.000.000đ/ tháng.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và công sức: Chị T và anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Dương Thị T, xử cho chị Dương Thị T được ly hôn với anh Phạm Gia S; X về con chung: Giao cháu Phạm gia Bảo K, sinh ngày 19/12/2017 và cháu Phạm Bảo T1, sinh ngày 23/9/2020 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Giao cháu Phạm Gia Bảo A, sinh ngày 14/11/2015 cho anh Phạm Gia S chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; về tài sản chung, tài sản riêng và công nợ, công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; về án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Dương Thị T làm đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật dân sự. Quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về ly hôn và nuôi con. Bị đơn anh Phạm Gia S có địa chỉ tại tổ dân phố C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

- Về việc vắng mặt của bị đơn: Bị đơn anh Phạm Gia S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng anh S vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

[2]. Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thấy rằng: Chị T và anh S kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Quá trình chung sống thời gian đầu tình cảm vợ chồng bình thường, đến tháng 10/2024 vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày, anh S không chịu làm ăn hay chơi bời cờ bạc nhiều lần cầm cố xe máy và điện thoại của chị T dẫn đến vợ chồng nhiều lần cãi nhau, có lần đánh nhau. Chị T về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 10/2024, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án tại bản tự khai anh S nhất trí với yêu cầu xin ly hôn của chị T và yêu cầu được nuôi cháu A để chị thu nuôi cháu K và cháu T1. Tòa án đã tiến hành hòa giải giữa chị T và anh S ngày 07/5/2025, tại buổi hòa giải anh S xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn và xin đoàn tụ. Về việc anh S trình bày vẫn còn tình cảm với chị T nhưng anh S không có biện pháp gì để hàn gắn quan hệ vợ chồng. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T cho chị T được ly hôn với anh S.

[2.1]. Về con chung: Chị T và anh S có 03 con chung là Phạm Gia Bảo A, sinh ngày 14/11/2015, Phạm gia Bảo K, sinh ngày 19/12/2017 và cháu Phạm Bảo T1, sinh ngày 23/9/2020. Ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi cháu K và cháu T1 để cháu A cho anh S chăm sóc nuôi dưỡng.

Xét yêu cầu nuôi con chung của chị T và anh S thấy rằng: Hiện nay cháu A đang ở với anh S, cháu K và cháu T1 đang ở với chị T. Vì vậy để đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các cháu được tốt nhất cần giữ nguyên việc nuôi con như hiện nay. Do cháu A đã lớn nên giao cháu A cho anh S chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục. Đối với cháu K và cháu T1 nhỏ hơn cần giao cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chị T và anh S đều không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[2.2]. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[2.3]. Về án phí: Chị Dương Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, được xem xét khi quyết định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, 57, 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Cho chị Dương Thị T được ly hôn anh Phạm Gia S
    1. Về con chung: Giao cháu Phạm Gia Bảo K, sinh ngày 19/12/2017 và cháu Phạm Bảo T1, sinh ngày 23/9/2020 cho chị Dương Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

      Giao cháu Phạm Gia Bảo A, sinh ngày 14/11/2015 cho anh Phạm Gia S chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

      Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

      Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi một số điều của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

    2. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Không xem xét giải quyết.
    3. Về án phí: Chị Dương Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006368 ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Chị T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Vĩnh Yên;
  • - UBND phường Định Trung;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Nguyễn Thị Đường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp về ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 27/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn và tranh chấp nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger