|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 27/2025/HNGĐ - ST Ngày 17/11/2025 V/v: “Yêu cầu không công nhận vợ chồng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Rạng Đông
Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương, Thư ký Tòa án nhân dân
khu vực 2 – An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang tham gia phiên
toà: Ông Trần Quốc Toản - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 207/2025/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2025 về việc: “Yêu cầu không công nhận vợ chồng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXX- HNGĐ ngày 30/10/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bích V, sinh năm 1968.
Địa chỉ: Khu phố C C, đặc khu P, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Ông Phan D, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Khu phố A D, đặc khu P, tỉnh An Giang.
(Các đương sự đều có đơn xin giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Bích V trình bày:
Bà và ông Phan D tự nguyện tìm hiểu quen biết nhau và về chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 4 năm 1987, tại địa chỉ thuộc ấp C, xã C, huyện P, tỉnh Kiên Giang (Nay là khu phố C C, đặc khu P, tỉnh An Giang), cả hai có tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.
Thời gian đầu bà V và ông D chung sống hạnh phúc và có với nhau 02 người con chung tên là: Phan Ngọc H, sinh ngày 11/5/1988 và Phan Ngọc L, sinh ngày 07/12/1990. Nhưng đến khoảng đầu năm 1992 cũng vì vấn đề bất đồng ý kiến với nhau trong cuộc sống, nên cả hai thường xuyên cự cải, làm cho tình cảm vợ chồng rạn nứt, không còn hạnh phúc, vì nghĩ đến các con nhỏ nên bà V cố gắng níu kéo hạnh phúc nhưng mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng hơn nên cũng từ năm 1992 bà V và ông D đã chính thức sống ly thân cho đến nay, mỗi người sống một nơi. Ông Phan D về sinh sống tại địa chỉ tại khu phố E, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang (Nay là khu phố A D, đặc khu P, tỉnh An Giang) từ đó cho đến nay, còn bà V vẫn sinh sống tại địa chỉ thuộc ấp C, xã C, huyện P, tỉnh Kiên Giang (Nay là khu phố Ấ C, đặc khu P, tỉnh An Giang) từ đó cho đến nay. Mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau.
Nay bà V xác định giữa bà và ông D chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 4 năm 1987 đến năm 1992, cho đến nay cả hai không có đăng ký kết hôn, bản thân bà không còn tình cảm vợ chồng với ông D, không muốn hàn gắn hay đoàn tụ với ông D, cũng không muốn đi đăng ký kết hôn với ông D mà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn, không công nhận mối quan hệ giữa bà với ông D là vợ chồng, để mỗi người có cuộc sống riêng, không ai can thiệp vào cuộc sống của nhau nữa.
Về con chung: Bà V xác định quá trình chung sống với ông D thì giữa bà và ông D có 02 con chung tên là: Phan Ngọc H, sinh ngày 11/5/1988 và Phan Ngọc L, sinh ngày 07/12/1990. Hiện nay các con chung đều đã trưởng thành, bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.
Về tài sản chung: Bà V xác định giữa bà và ông D không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà V xác định giữa bà và ông D không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phan D trình bày:
Ông thống nhất với phần trình bày của bà Trần Thị Bích V về thời gian bà V và ông tự nguyện quen biết nhau và về chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 4 năm 1987 tại địa chỉ thuộc ấp C, xã C, huyện P, tỉnh Kiên Giang (Nay là khu phố C C, đặc khu P, tỉnh An Giang), cả hai có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Đến năm 1992 do giữa ông và bà V phát sinh mâu thuẫn nên cả hai đã sống ly thân nhau, bà V vẫn sinh sống tại địa chỉ thuộc ấp C, xã C, huyện P, tỉnh Kiên Giang, còn ông chuyển về D, P, Kiên Giang sinh sống từ đó cho đến nay, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa.
Nay bà V yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận mối quan hệ vợ chồng giữa bà V và ông thì ông hoàn toàn đồng ý, do cả hai đã sống ly thân thời gian dài, không còn tình cảm vợ chồng, không còn sự quan tâm chăm sóc và ai cũng có cuộc sống riêng của mỗi người. Ông nhận thấy giữa ông và bà V không
thể nào tiếp tục chung sống với nhau được nữa, bản thân ông cũng không muốn đoàn tụ hay đăng ký kết hôn với bà V. Do đó, ông thống nhất với yêu cầu của bà V về việc yêu cầu Tòa án không công nhận mối quan hệ giữa bà V và ông là vợ chồng, để cả hai được tự do, có cuộc sống riêng.
Về con chung: Ông D xác định quá trình chung sống giữa ông và bà V có 02 con chung tên là Phan Ngọc H, sinh ngày 11/5/1988 và Phan Ngọc L, sinh ngày 07/12/1990 đúng như bà V trình bày. Hiện nay các con chung đều đã trưởng thành, nên ông cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.
Về tài sản chung: Ông D xác định giữa ông và bà V không có tài sản chung, nên ông cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông D xác định giữa ông và bà V không có nợ chung, nên ông cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình theo Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, nên căn cứ khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung: Bà Trần Thị Bích V và ông Phan D chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 4 năm 1987 đến năm 1992, mặc dù cả hai có đủ điều kiện kết hôn nhưng đến nay ông, bà vẫn chưa đăng ký kết hôn, nên pháp luật không thừa nhận mối quan hệ của ông, bà là vợ chồng. Vì vậy, bà V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận mối quan hệ giữa bà V và ông D là vợ chồng, ông Phan D cũng thống nhất yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng với bà V. Do đó, yêu cầu không công nhận vợ chồng của bà V với ông D là có cơ sở chấp nhận. Căn cứ Điều 9, Điều 14 và Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa bà V và ông D là vợ chồng; Về con chung: Bà V và ông D xác định ông, bà có hai người con chung tên là Phan Ngọc H, sinh ngày 11/5/1988 và Phan Ngọc L, sinh ngày 07/12/1990, hiện các con chung đều đã trưởng thành nên bà V và ông D đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Bà V và ông D đều xác định quá trình chung sống giữa ông, bà không có tài sản chung và nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết của tòa án: Bị đơn ông Phan D có nơi cư trú tại địa bàn đặc khu P, tỉnh An Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Q về thành lập TAND cấp tỉnh, TAND khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của TAND cấp tỉnh, TAND khu vực.
Nguyên đơn bà Trần Thị Bích V và ông Phan D đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà V và ông D theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Vào tháng 4 năm 1987 bà Trần Thị Bích V và ông Phan D tự nguyện tìm hiểu quen biết nhau và tiến đến tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, về chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Đến nay, mặc dù bà V và ông D đủ điều kiện kết hôn nhưng cả hai vẫn chưa thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.
Thời gian đầu bà V và ông D chung sống hạnh phúc và có với nhau 02 người con chung tên Phan Ngọc H, sinh ngày 11/5/1988 và Phan Ngọc L, sinh ngày 07/12/1990. Nhưng đến khoảng đầu năm 1992 cũng vì vấn đề bất đồng ý kiến với nhau trong cuộc sống, nên cả hai thường xuyên cự cải, làm cho tình cảm vợ chồng rạn nứt, không còn hạnh phúc, vì nghĩ đến các con nhỏ nên bà V cố gắng níu kéo hạnh phúc nhưng mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng hơn nên cũng từ năm 1992 bà V và ông D đã chính thức sống ly thân cho đến nay, mỗi người sống một nơi và không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa.
Trong quá trình giải quyết vụ án bà V và ông D không muốn tiếp tục chung sống với nhau nữa, cả hai không có thiện chí đoàn tụ và đăng ký kết hôn, bà V vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà và ông D và ông D cũng đồng ý với yêu cầu của bà V. Như vậy, bà V và ông D đã sống với nhau như vợ chồng từ tháng 4 năm 1987 nhưng đến nay vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đó là: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.”. Và tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V về việc không công
nhận quan hệ vợ chồng giữa bà V với ông D là phù hợp với Điều 14 và Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà Trần Thị Bích V và ông Phan D đều xác định trong quá trình chung sống ông, bà có với nhau 02 người con chung tên là Phan Ngọc H, sinh ngày 11/5/1988 và Phan Ngọc L, sinh ngày 07/12/1990. Hiện nay các con chung đều đã trưởng thành, bà V và ông D đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Bà Trần Thị Bích V và ông Phan D đều xác nhận ông, bà không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Bà Trần Thị Bích V và ông Phan D đều xác nhận ông, bà không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí:
Nguyên đơn bà Trần Thị Bích V phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.
[4]. Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Q về thành lập TAND cấp tỉnh, TAND khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của TAND cấp tỉnh, TAND khu vực.
Áp dụng các điều 9, 14, 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Bích V.
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà Trần Thị Bích V với ông Phan D là vợ chồng.
2. Về con chung: Đối với hai người con chung tên là Phan Ngọc H, sinh ngày 11/5/1988 và Phan Ngọc L, sinh ngày 07/12/1990 đều đã trưởng thành, nên bà Trần Thị Bích V và ông Phan D đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về tài sản chung: Bà Trần Thị Bích V và ông Phan D đều xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung: Bà Trần Thị Bích V và ông Phan D đều xác nhận không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Bà Trần Thị Bích V phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà V đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002136 ngày 18/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Ông Phan D không phải nộp án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Bích V và ông Phan D đều vắng mặt tại phiên tòa, nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Nhung |
Bản án số 27/2025/HNGĐ - ST ngày 17/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG về yêu cầu không công nhận vợ chồng
- Số bản án: 27/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu không công nhận vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng S và ông Huỳnh Thanh B
