Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUY HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 15-4-2025

V/v: Tranh chấp “Ly hôn”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Lê Mai.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Khắc Hiếu và ông Lương Công Hạnh.

Thư ký phiên tòa: Ông Thái Đức Duy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hưng – Kiểm sát viên.

Vào ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 442/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024, về tranh chấp “Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07/3/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27/3/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị Mỹ L, sinh năm: 1995; HKTT: khu phố P, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Hiện ở: thôn L, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Huỳnh H, sinh năm: 1993; Địa chỉ: khu phố T, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi (L) và ông Nguyễn Huỳnh H tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại U, thành phố T vào năm 2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian, thì phát sinh mâu thuẫn do tình tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã nhau. Đến tháng

02/2024, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nên không còn sống chung nữa, tôi đã về nhà của cha mẹ ruột để sống từ đó đến nay, không còn ai quan tâm đến ai. Nay thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi làm đơn yêu cầu được ly hôn với ông H để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Gia H1, sinh ngày 29/11/2017. Hiện con đang sống cùng với tôi. Ly hôn tôi tôi xin được nuôi con; tôi có đủ khả năng nuôi con nên không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

* Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên không có lời khai và không tiến hành hòa giải được.

* Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin được ly hôn với bị đơn; về con chung: xin nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật; bị đơn không chấp hành đúng quy định. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, nguyên đơn được ly hôn bị đơn. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Gia H1 cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, không xét. Về án phí, nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Huỳnh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ L và bị đơn ông Nguyễn Huỳnh H tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại U, thành phố T vào năm 2015, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn như đương sự đã trình bày. Vợ chồng đã không còn sống chung với nhau từ tháng 02/2024 cho đến nay, không còn ai quan tâm đến ai; vợ, chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, là vi phạm nghĩa vụ vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.

[4] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Gia H1, sinh ngày 29/11/2017; hiện con đang sống cùng nguyên đơn. Ly hôn nguyên đơn xin được nuôi con và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ, phù hợp với nguyện vọng của con và quy định của pháp luật nên chấp nhận; giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[5] Về tài sản chung: Không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ L.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Mỹ L được ly hôn ông Nguyễn Huỳnh Hữu .

- Về con chung: Giao 01 con chung là Nguyễn Gia H1, sinh ngày 29/11/2017 cho bà Trương Thị Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Huỳnh H không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0005660 ngày 26/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - Viện KSND thành phố Tuy Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Tuy Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường 9, Tuy Hòa;
  • (Giấy CNKH số 121, ngày 17/12/2015)
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Lê Mai

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

 
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 27/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn bị đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger