Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHATRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12/3/2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG,

TỈNH KHÁNH HÒA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Minh

ải Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bạch Long Hạc

Bà Võ Thị Bời

-Thư ký phiên tòa: Bà Võ Tú Ngọc – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên toà: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 968/2024/TLST-HNGĐ ngày 28/10/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXX-ST ngày 25 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thanh C - sinh năm: 1999
  • Địa chỉ: Đ, N, N, tỉnh Khánh Hòa.
  • * Bị đơn: Ông Lê Hoàng N – sinh năm 1982
  • Địa chỉ: B L, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

Các đương sự đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ, lời khai trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa bà Lê Thị Thanh C trình bày:

Bà và ông Lê Hoàng N tự nguyện kết hôn vào năm 2022, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V - N - Khánh Hòa. Trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung do ông Lê Hoàng N hay nhậu say xỉn không quan tâm đến vợ con, khi nhậu say hay đánh đập chửi mắng. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên bà làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Lê Hoàng N.

Về con chung: Ông bà có 01 con chung là Lê Hữu T, sinh ngày 02/8/2022. Ly hôn, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn – ông Lê Hoàng N trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà Lê Thị Thanh C về thời gian và điều kiện kết hôn, cũng như mâu thuẫn phát sinh giữa vợ chồng, tuy nhiên ông cho rằng mâu thuẫn không có gì lớn đến mức phải ly hôn. Ông thừa nhận có đánh bà C 1 lần và thực tế hai vợ chồng đã ly thân được hơn 06 tháng. Nay bà C làm đơn ly hôn ông không đồng ý vì vẫn còn thương vợ con.

Về con chung: Ông bà có 01 con chung là Lê Hữu T, sinh ngày 02/8/2022. Ly hôn, ông N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không cấp dưỡng nuôi con chung.

* Về tài sản chung: Ông bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Thanh C và ông Lê Hoàng N không thể tiếp tục duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Lê Thị Thanh C được ly hôn với ông Lê Hoàng N. Về con chung: Giao con chung là Lê Hữu T, sinh ngày 02/8/2022 cho bà Lê Thị Thanh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông Lê Hoàng N. Tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Lê Thị Thanh C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Lê Thị Thanh C khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con đối với ông Lê Hoàng N, ông N có nơi cư trú tại số B L, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Bà Lê Thị Thanh C và ông Lê Hoàng N tự nguyện kết hôn với nhau năm 2022, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (Giấy CNKH số 04, ngày 08/3/2022) nên đây là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà Lê Thị Thanh C có yêu cầu ly hôn nên Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa thụ lý là đúng quy định tại khoản 1, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại các biên bản hòa giải, cũng như tại phiên tòa ông Lê Hoàng N và bà Lê Thị Thanh C đều thừa nhận giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, và thực tế cả hai đã sống ly thân gần 06 tháng nay. Mặt khác, ông N còn thừa nhận trong lúc nóng giận có đánh bà C. Như vậy, mâu thuẫn giữa ông N và bà C là có thật. Mặc dù ông không đồng ý ly hôn với lý do vẫn còn thương vợ con, tuy nhiên gia đình hai bên cũng đã tác động khuyên bảo nhưng bà C vẫn cương quyết xin ly hôn mà ông N cũng không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn mau thuẫn gia đình.

Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà C và ông N là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu cứ tiếp tục duy trì cuộc sống gia đình thì cũng không đem lại hạnh phúc cho đôi bên. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà C là chính đáng, có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4] Về con chung: Bà Lê Thị Thanh C và ông Lê Hoàng N có 01 con chung là Lê Hữu T, sinh ngày 02/8/2022. Bà C và ông N đều có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.

Hội đồng xét xử xét thấy: Ông N và bà C đều có công việc ổn định, đủ điều kiện kinh tế để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên hiện nay cháu T đang sống cùng mẹ và cháu đang dưới 36 tháng tuổi. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống và tâm sinh lý của cháu nên giao Lê Hữu T, sinh ngày 02/8/2022 cho bà Lê Thị Thanh C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị Thanh C đủ điều kiện nuôi con, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện. Quá trình nuôi dưỡng con chung Lê Hữu T, nếu bà C có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì bà C có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật. Tại thời điểm này bà C không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông Lê Hoàng N.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bà Lê Thị Thanh C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Lê Thị Thanh C.

  • * Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh C được ly hôn ông Lê Hoàng N.
  • * Về con chung: Giao con chung là Lê Hữu T, sinh ngày 02/8/2022 cho bà Lê Thị Thanh C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Lê Hoàng N cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  • * Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • * Về án phí: Bà Lê Thị Thanh C phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền ký hiệu: BLTU/23 số 0003158 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Như vậy, bà C đã nộp đủ án phí.

* Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Quy định: Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhân:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND Tp. Nha Trang;
  • - Chi cục THADS Tp. Nha Trang;
  • - UBND xã Vĩnh Thái, Nha Trang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu án văn + hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Hồng Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn

  • Số bản án: 27/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger