TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2025/HNGĐ – ST Ngày 11 - 6 - 2025 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hằng và ông Đoàn Văn Đoan.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc tham gia phiên tòa: Ông Lưu Hải Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòà án nhân dân huyện Yên Lạc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2025/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 về ly hôn; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Thào Thị S, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 12 năm 2024 và những lời khai trong quá trình làm việc cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Thào Thị S trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn V đăng ký kết hôn ngày 25/3/2024, tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, sau ngày cưới chị về làm dâu nhà anh V và vợ chồng chung sống cùng gia đình nhà anh V. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng hòa thuận, tháng 7/2024 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Sau nhiều lần mâu thuẫn nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 8/2024 đến nay, kể từ khi sống ly thân hai bên không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh V, chị tha thiết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh V.
Về con chung: Chị và anh V không có con chung
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn V: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án, bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu giấy tờ kèm theo đồng thời triệu tập anh V rất nhiều lần; thậm chí để vụ án được giải quyết một cách đầy đủ, toàn diện, khách quan và đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự Tòa án đã gửi công văn nêu rõ nội dung vụ án để anh V đến Tòa trực tiếp trình bày ý kiến của mình về từng vấn đề, nội dung cụ thể theo đơn khởi kiện của chị S nhưng anh V không đến Tòa án làm việc.
Ngày 22 tháng 4 năm 2025, Tòa án tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Liên Châu cho biết: Chị Thào Thị S và anh Nguyễn Văn V có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 25 tháng 3 năm 2024. Sau khi kết hôn vợ chồng anh V chung sống cùng gia đình anh V tại thôn Nhật Tiến 3, xã Liên Châu. Quá trình chung sống, thời gian ngắn thấy anh chị sống hòa thuận, đến khoảng tháng 7/2024, địa phương thấy chị không ở cùng nhà V nữa và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị S xin ly hôn anh V, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng và của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định; người tham gia tố tụng, anh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đều vắng mặt không lý do; chị S đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Thào Thị S được ly hôn anh Nguyễn Văn V;
Về án phí: chị S phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Thào Thị S khởi kiện yêu cầu xin được ly hôn anh Nguyễn Văn V, do đó đây là vụ án ly hôn. Bị đơn anh V đang cư trú tại xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Tranh chấp về ly hôn" được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc theo quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần hai, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Căn cứ vào lời trình bày của chị S và kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc thể hiện chị S, anh V có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Liên Châu ngày 25 tháng 3 năm 2024, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị S, anh V là hợp pháp. Quá trình chung sống, do luôn bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hàng ngày nên phát sinh mâu thuẫn. 2
Trong những lần làm việc tại Tòa án và tại phiên toà chị S đều khẳng định tình cảm vợ chồng với anh V không còn, việc đoàn tụ là không thể, do đó chị tha thiết đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn với anh V. Xét cuộc sống chung giữa chị S và anh V không thể tiếp tục vì mâu thuẫn giữa anh, chị xảy ra đã lâu. Do đó cần giải quyết cho chị S và anh V, được ly hôn để anh, chị có điều kiện tạo lập cuộc sống mới.
[ 3] Về nuôi con chung: Chị S và anh V chưa có con chung.
[4] Về tài sản: Chị S và anh V không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Sau khi ly hôn, nếu các đương sự có đề nghị về tài sản thì Tòa án giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[5] Về án phí sơ thẩm: Chị S phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc về giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Chị Thào Thị S được ly hôn anh Nguyễn Văn V.
Về án phí: Chị Thào Thị S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003554 ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc; Chị S đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt cũng có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lan |
3
| Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
| Nguyễn Thị Hằng Đoàn Văn Đoan | Trần Thị Lan |
| Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
| Nguyễn Thị Hằng Đoàn Văn Đoan | Trần Thị Lan |
4
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lan |
5
mâu thuẫn bất đồng quan điểm, sau nhiều lần mâu thuẫn chị và anh Hùng đã sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay, kể từ khi sống ly thân hai bên không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh Hùng, chị tha thiết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hùng.
Về con chung: Chị và anh Hùng có 01 con chung là Văn Xuân Nhi, sinh ngày 20/12/2023. Hiện nay cháu Nhi đang ở cùng chị. Ly hôn chị xin được nuôi cháu Nhi và không yêu cầu anh Hùng phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Hiện tại chị không có thai, anh Hùng và chị không ai con nuôi, không ai có con riêng.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn anh Văn Xuân Hùng quá trình giải quyết vụ án, anh trình bày: Anh thừa nhận lời trình bày của chị Huyền về thời điểm đăng ký kết hôn, quá trình vợ chồng 6
chung sống nhưng nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, chị Huyền yêu cầu kinh tế quá lớn và một số nguyên nhân khác từ phía gia đình chị Huyền. Nay chị Huyền làm đơn khởi kiện xin ly hôn, anh xác định mâu thuẫn vợ chồng có xảy ra hiện tại đã sống ly thân nhưng anh muốn đoàn tụ, không đồng ý ly hôn để vợ chồng cùng nhau nuôi dạy con chung .
Về nuôi con chung: Anh xác nhận lời trình bày của chị Huyền là vợ chồng có 01 con chung là Văn Xuân Nhi, sinh ngày 20/12/2023. Hiện nay cháu Nhi đang ở cùng chị Huyền nếu phải ly hôn anh đồng ý để chị Huyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nhi. Anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Huyền mỗi tháng 2.000.000đồng, kể từ tháng 11/2024 đến khi cháu Nhi đủ 18 tuổi.
Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024, Tòa án tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Đại Tự kết quả như sau: Chị Nguyễn Thị Thanh Huyền và anh Văn Xuân Hùng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đại Tự, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 28 tháng 10 năm 2022. Sau khi kết hôn vợ chồng anh Hùng chung sống cùng gia đình anh Hùng tại thôn Đại Tự 56, xã Đại Tự, một thời gian ngắn sau đó đi thuê nhà ở riêng nên địa phương cũng không biết cuộc sống của anh chị diễn ra như thế nào. Nay chị Huyền xin ly hôn anh Hùng, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng và của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định; người tham gia tố tụng, chấp hành đúng các qui định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Nguyễn Thị Thanh Huyền được ly hôn anh Văn Xuân Hùng; về nuôi con chung: Giao cháu Văn Xuân Nhi, sinh ngày 20/12/2023 cho chị Huyền tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục; anh Hùng cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Huyền mỗi tháng 2.000.000đồng kể từ tháng 11/2024 đến khi cháu Nhi đủ 18 tuổi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được gây khó khăn. Về án phí chị Huyền, anh Hùng phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Thị Thanh Huyền khởi kiện yêu cầu xin được ly hôn anh Văn Xuân Hùng và đề nghị phân chia nuôi con chung, do đó đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn anh Hùng đang cư trú tại thôn Đại Tự 56, xã Đại Tự, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc theo quy định tại Điều 35 Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử 7
vắng mặt, vì vậy Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Căn cứ vào lời trình bày của chị Huyền, anh Hùng và kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Đại Tự, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc thể hiện chị Huyền, anh Hùng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đại Tự vào ngày 28 tháng 10 năm 2022, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Huyền anh Hùng là hợp pháp. Quá trình chung sống do tính tình không hợp nhau nên phát sinh mâu thuẫn. Trong những lần làm việc tại Toà án chị Huyền đều khẳng định tình cảm vợ chồng với anh Hùng không còn, việc đoàn tụ là không thể, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hùng. Anh Hùng không đồng ý ly hôn với chị Huyền nhưng không đưa ra được căn cứ để xin đoàn tụ; anh Hùng cũng khẳng định quá trình chung sống, do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn vợ chồng xảy ra đã lâu và đặc biệt kể từ khi sống ly thân không còn quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Huyền và anh Hùng là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh Huyền.
[3] Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Thanh Huyền và anh Văn Xuân Hùng có một con chung là Văn Xuân Nhi, sinh ngày 20/12/2023. Hiện nay cháu Nhi đang ở cùng chị Huyền. Quá trình giải quyết vụ án chị Huyền xin được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nhi, anh Hùng cũng đồng ý. Xét thỏa thuận nuôi con chung của anh, chị là hoàn toàn tự nguyện và hiện nay cháu Nhi đang còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên cần giao cho chị Huyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nhi; anh Hùng cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Huyền mỗi tháng 2.000.000đồng, kể từ tháng 11/2024 đến khi cháu Nhi đủ 18 tuổi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về tài sản: Chị Huyền và anh Hùng không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn, nếu các đương sự có đề nghị về tài sản thì Tòa án giải quyết bằng vụ án khác theo qui định của pháp luật.
[5] Về án phí sơ thẩm: Chị Huyền phải chịu án phí ly hôn; anh Hùng phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc về giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án. 8
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh Huyền được ly hôn anh Văn Xuân Hùng.
Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thanh Huyền được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Văn Xuân Nhi, sinh ngày 20/12/2023; anh Văn Xuân Hùng cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Huyền 2.000.000đồng/1 tháng, kể từ tháng 11/2024 đến khi cháu Nhi đủ 18 tuổi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở, gây khó khăn.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, chị Nguyễn Thị Thanh Huyền có đơn yêu cầu thi hành án, anh Văn Xuân Hùng không tự nguyện thi hành án thì còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền cấp dưỡng chưa thanh toán theo mức lãi xuất quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự cho đến khi thanh toán xong khoản tiền cấp dưỡng.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh Huyền phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003342 ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc; Chị Huyền đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm. Anh Văn Xuân Hùng phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.
Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Hoàng Văn Khảm Đỗ Hồng Phúc | Trần Thị Lan |
9
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lan |
10
| Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
| Trần Thị Lan |
11
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lan |
12
13
Bản án số 27/2025/HNGĐ – ST ngày 11/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC về ly hôn
- Số bản án: 27/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Thào Thị S khởi kiện yêu cầu xin được ly hôn anh Nguyễn Văn V, do đó đây là vụ án ly hôn
