|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 4 - 2025
V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Chính;
Ông Phạm Ngọc Minh.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đoàn Nguyễn Minh Thu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Yến Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 310/2024/TLST - HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 17/3/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đạo Thị Ngọc T, sinh năm 1998 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận
Bị đơn: Ông Tạ Anh S, sinh năm 1994 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Đạo Thị Ngọc T trình bày:
Về hôn nhân: Bà với ông Tạ Anh S tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau vào năm 2013, có đến Ủy ban nhân dân xã P, huyện N làm thủ tục đăng ký kết hôn lại vào năm 2017.
Qúa trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, nhưng đến đầu năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Tạ Anh S đam mê bài bạc, mượn nợ người khác, khi chủ nợ đến nhà đòi nợ thì ông Tạ Anh S bắt bà phải đi vay tiền nóng bên ngoài để trả nợ cho ông Tạ Anh S, nhưng ông Tạ Anh S lại không chịu sửa đổi mà tiếp tục bài bạc, khi không có tiền ông Tạ Anh S lấy đồ đạc trong nhà mang đi cầm cố, bà đã nhiều lần khuyên nhủ không nghe, nên từ đó giữa bà với ông Tạ Anh S thường xuyên xảy ra cãi nhau.
Hiện bà với ông Tạ Anh S đã sống ly thân với nhau từ năm 2020 cho đến nay, không quan tâm đến nhau.
Nay bà thấy không còn tình cảm với ông Tạ Anh S, yêu cầu được ly hôn với ông Tạ Anh S.
Hiện bà đang làm nghề trông giữ trẻ, thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 8.500.000₫
Về con chung: Bà với ông Tạ A Sinh sống với nhau có 02 con chung tên Tạ Tuấn D, sinh ngày 18-5-2014, Tạ Tuấn D1, sinh ngày 11-9-2019, hiện các con chung đang sống với bà. Bà yêu cầu được nuôi hết các con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, Bị đơn ông Tạ Anh S vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng:
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử (Hội đồng xét xử được viết tắt là HĐXX). Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi HĐXX nghị án, đều đảm bảo đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt, còn bị đơn Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đạo Thị Ngọc T. Cho bà Đạo Thị Ngọc T được ly hôn với ông Tạ Anh S, giao 02 con chung tên Tạ Tuấn D, sinh ngày 18-5-2014, Tạ Tuấn D1, sinh ngày 11-9-2019 cho bà Đạo Thị Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng, ông Tạ Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Buộc bà Đạo Thị Ngọc T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án, HĐXX xác định: Quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Bị đơn hiện đang cư trú tại khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ kiện và tại phiên tòa hôm nay bà Đạo Thị Ngọc T vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt, ông Tạ Anh S vắng mặt không có lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt bà Đạo Thị Ngọc T, ông Tạ Anh S.
[3]. Về nội dung vụ án:
[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa xác định được bà Đạo Thị Ngọc T và ông Tạ Anh S chung sống với nhau 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N theo giấy chứng nhận kết hôn số 86 ngày 11-5-2017. Do đó, hôn nhân giữa bà Đạo Thị Ngọc T và ông Tạ Anh S là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Đạo Thị Ngọc T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn ông Tạ Anh S, vì tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn gay gắt, trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm nhau từ năm 2020 đến nay, tình cảm vợ chồng đã hết. Vì vậy, bà yêu cầu được ly hôn với ông Tạ Anh S. Đối với bị đơn ông Tạ Anh S mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, các văn bản tố tụng nhiều lần theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng vẫn cố tình không đến. Chứng tỏ ông Tạ Anh S không có thiện chí đoàn tụ gia đình, không tha thiết bảo vệ hạnh phúc vợ, chồng. Vì, vậy, yêu cầu khởi kiện ly hôn và lời khai của bà Đạo Thị Ngọc T là có căn cứ. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Đạo Thị Ngọc T và ông Tạ Anh S đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng đã hết, hiện đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đạo Thị Ngọc T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3.2]. Về con chung: Bà Đạo Thị Ngọc T trình bày, bà với ông Tạ A Sinh sống với nhau có 02 con chung tên Tạ Tuấn D, sinh ngày 18-5-2014, Tạ Tuấn D1, sinh ngày 11-9-2019. Hiện các con chung đang sống với bà Đạo Thị Ngọc T. Bà Đạo Thị Ngọc T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Đạo Thị Ngọc T là người trực tiếp chăm sóc các con chung từ khi bà Đạo Thị Ngọc T với ông Tạ A Sinh sống ly thân chu đáo, các con chung phát triển bình thường, hơn nữa cũng phù hợp với nguyện vọng của các con chung đã trên 07 tuổi, nguyện vọng được ở với mẹ, vì vậy phải tôn trọng nguyện vọng của các con chung, nên giao các con chung tên Tạ Tuấn D, sinh ngày 18-5-2014, Tạ Tuấn D1, sinh ngày 11-9-2019 cho bà Đạo Thị Ngọc T được trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Tạ Anh S không cấp dưỡng nuôi các con chung do chưa có yêu cầu, là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3.3]. Về tài sản, nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[4]. Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn bà Đạo Thị Ngọc T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[5]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện N tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con” của nguyên đơn bà Đạo Thị Ngọc T. Bà Đạo Thị Ngọc T được ly hôn với ông Tạ Anh S.
- Về con chung:
- + Giao các con chung Tạ Tuấn D, sinh ngày 18-5-2014, Tạ Tuấn D1, sinh ngày 11-9-2019 cho bà Đạo Thị Ngọc T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. (Hiện con chung đang sống với bà Đạo Thị Ngọc T).
- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Bà Đạo Thị Ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Tòa án đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004640 ngày 16-10-2024 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Bà Đạo Thị Ngọc T đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn và bị đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Bình |
Bản án số 27/2025/HNGĐ-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 27/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và nuôi con
