|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 09-6-2025
V/v: “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Huế
Bà Nguyễn Hà Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tài - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 167/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kiều D, sinh năm: 1996; địa chỉ: Số B N, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Anh Hồ Nguyễn Quốc T, sinh năm: 1997; địa chỉ: Số B N, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
(Chị D và anh T đều vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 16/4/2025 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thị Kiều D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hồ Nguyễn Quốc T đăng ký kết hôn ngày 30/11/2017 tại UBND phường A1, thành phố B, việc kết hôn là tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, căng thẳng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vấn đề kinh tế gia đình, anh T không lo làm ăn chăm sóc cho vợ con mà thường xuyên chơi bời dẫn đến nợ nần nhiều lần chị phải đi thanh toán. Chị đã cố gắng khuyên bảo nhưng anh T không sửa đổi mà thậm chí còn có lần dùng bạo lực đối với chị. Vì vậy, mâu thuẫn vợ chồng không giải quyết được mà ngày càng trầm trọng hơn nên vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hồ Nguyễn Quốc T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là cháu Hồ Minh K, sinh ngày: 04/12/2017 và cháu Hồ Phúc A, sinh ngày 04/12/2017, hiện cả hai cháu đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Nay, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai cháu cho đến khi đủ 18 tuổi. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung.
Tại bản tự khai và trong quá trình tố tụng, bị đơn anh Hồ Nguyễn Quốc T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị D đăng ký kết hôn ngày 30/11/2017 tại UBND phường A1, thành phố B, việc kết hôn là tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Trong quá trình chung sống đến năm 2022 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do vợ chồng nảy sinh quá nhiều sự khác biệt, bất đồng về tính cách, lối sống, ngoài ra còn do vấn đề làm ăn kinh tế. Anh thừa nhận hiện nay vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Tuy nhiên anh vẫn còn tình cảm với chị D nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là cháu Hồ Minh K, sinh ngày: 04/12/2017 và cháu Hồ Phúc A, sinh ngày 04/12/2017, cả hai cháu đang do chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh đồng ý giao cả hai cháu cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con tự thỏa thuận.
Về tài sản chung: Anh cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Trần Thị Kiều D và bị đơn anh Hồ Nguyễn Quốc T đều vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của đương sự từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Kiều D được ly hôn với anh Hồ Nguyễn Quốc T.
Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Hồ Minh K và cháu Hồ Phúc A cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành. Chị D không yêu cầu cấp dưỡng dưỡng nuôi con nên không đề cập đến.
Về tài sản chung: Các bên không yêu cầu nên không đề cập đến.
Về nợ chung: Các bên không có nợ chung nên không xem xét đến.
Về án phí: Buộc nguyên đơn chị Trần Thị Kiều D phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn chị Trần Thị Kiều D có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc giải quyết được ly hôn với anh Hồ Nguyễn Quốc T. Vì vậy, Tòa án xác định đây là tranh chấp về “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Hồ Nguyễn Quốc T có địa chỉ cư trú tại phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự:
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Trần Thị Kiều D và bị đơn anh Hồ Nguyễn Quốc T đều vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị D, anh T theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Kiều D và anh Hồ Nguyễn Quốc T đã được UBND phường A1, thành phố B cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 113/2017 ngày 30/11/2017, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, thời điểm đăng ký cả hai đều đủ điều kiện kết hôn. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh T là hợp pháp.
Theo chị D, quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được 5 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do vấn đề kinh tế gia đình, anh T không lo làm ăn chăm sóc cho vợ con mà thường xuyên chơi bời dẫn đến nợ nần nhiều lần chị phải đi thanh toán. Chị đã cố gắng khuyên bảo nhưng anh T không sửa đổi mà thậm chí còn có lần dùng bạo lực đối với chị. Chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh T không thay đổi mà thậm chí còn có lần dùng bạo lực đối với chị nên mâu thuẫn vợ chồng không giải quyết được mà ngày càng trầm trọng hơn. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau.
Còn theo anh T thì trong quá trình chung sống từ năm 2018 cho đến năm 2022 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng nảy sinh quá nhiều sự khác biệt, bất đồng về tính cách, lối sống, ngoài ra còn do vấn đề làm ăn kinh tế.
Mặt khác, Tòa án đã tiến hành xác minh bà Lương Thị Thanh N (mẹ đẻ của chị D, mẹ vợ anh T) thì bà N cho biết: “Vợ chồng chị D và anh T kết hôn vào năm 2017 theo đúng theo quy định của pháp luật, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với bà tại số B N, phường B, thành phố B. Quá trình
chung sống bà thấy vợ chồng không được hạnh phúc, thường xuyên cãi vã. Nguyên nhân là do anh T không có trách nhiệm với gia đình, vợ con, không lo làm ăn kiếm tiền chăm lo cho vợ. Anh Thanh nghiệm game, thường chơi game hết đêm, ban ngày thì ngủ. Mỗi lần vợ chồng cãi nhau thì anh T lại hù dọa vợ là sẽ chay ra đường tông vào xe để tự tự, có vài lần thì khi cãi nhau thì anh T lấy dao đe dọa vợ, tôi phải can ngăn. Từ cuối năm 2024 thì anh T đã bỏ ra ngoài sinh sống, thỉnh thoảng mới về nhà lấy đồ đạc rồi lại đi. Theo tôi thấy Tòa án nên cho ly hôn càng sớm càng tốt, cứ để vợ tôi lo anh T sẽ có những hành động quá khích, nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của vợ con”.
Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh T là có xảy ra trên thực tế và đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D, cho chị D được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Chị D và anh T có 02 người con chung là cháu Hồ Minh K, sinh ngày: 04/12/2017 và cháu Hồ Phúc A, sinh ngày 04/12/2017, cả hai cháu đang do chị D trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai cháu cho đến khi đủ 18 tuổi. Còn anh T thể hiện ý kiến là trường hợp Tòa án cho ly hôn thì anh đồng ý giao cả hai cháu cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi.
Mặt khác, cháu K và cháu A hiện nay đã trên 7 tuổi và đều thể hiện nguyện vọng được ở với mẹ (chị D).
Vì vậy, cần giao cháu K và cháu A cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi là đảm bảo quyền lợi mọi mặt của các cháu, đồng thời cũng phù hợp với quy định của pháp luật và ý kiến của các đương sự.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị D không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
[2.3] Về tài sản chung: Chị D và anh T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, không xem xét giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Chị D và anh T đều xác định hiện nay vợ chồng không có nợ chung nên không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Buộc nguyên đơn chị D phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bị đơn anh T không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[4] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, khoản 1 Điều 39, các Điều 146, 147, 205, 210, 220, 227, 228, 262 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 18, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Trần Thị Kiều D đối với bị đơn anh Hồ Nguyễn Quốc T.
Cho chị Trần Thị Kiều D được ly hôn với anh Hồ Nguyễn Quốc T.
- Về con chung: Giao cháu Hồ Minh K, sinh ngày: 04/12/2017 và cháu Hồ Phúc A, sinh ngày 04/12/2017 (hiện đang do chị D nuôi dưỡng) cho chị Trần Thị Kiều D tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con các bên không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: Buộc chị Trần Thị Kiều D phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0000771 ngày 21/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc (chị D đã nộp đủ). Anh Hồ Nguyễn Quốc T không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ninh Khắc Phong |
Bản án số 27/2025/HNGĐ - ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 27/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị Kiều D ly hôn với anh Hồ Nguyễn Quốc T
