Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG PHÚ

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HNGĐ-ST

Ngày 04/6/2025

V/v “ ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ- TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Thường

Ông Phạm Hiệp

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Hồ Thị Bình - thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước: Không tham gia phiên toà.

Trong ngày 04 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 155/2025/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025 về việc “ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16/5/2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Phạm Thị H, sinh năm 1975. Trú tại: Tổ A, khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

* Bị đơn: Đỗ Văn D, sinh năm 1963. Trú tại: Tổ A, khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

NHẬN THẤY

*Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Phạm Thị H trình bày:

Bà Phạm Thị H (tên thường gọi là Đỗ Thị T) và ông Đỗ Văn D kết hôn tự nguyện vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận kết hôn số 89, ngày 12/8/2013. Tuy nhiên, việc đăng ký kết hôn là không đúng quy định vì bà H đã sử dụng tên gọi khác (Đỗ Thị T) để đăng ký kết hôn với ông D. Nguyên nhân, trước đây lúc mới vào miền N lập nghiệp, do không hiểu biết nên bà H đã lấy tên giả là Đỗ Thị T, sinh ngày 15/11/1975 để làm giấy tờ cư trú tại xã T, huyện Đ, tỉnh Sông Bé (nay là thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước) và làm giấy chứng minh nhân dân tên là Đỗ Thị T, sau đó sử dụng tên Đỗ Thị T để đăng ký kết hôn với ông Đỗ Văn D và làm các giấy tờ thủ tục khác có liên quan như giấy ( giấy chứng minh nhân dân, giấy khai sinh của con, giấy tờ khác có liên quan...) sử dụng từ đó cho đến nay.

Tháng 6/2023, khi bà H đi làm lại dữ liệu dân cư, Công an huyện Đ đã phát hiện việc sử dụng tên không đúng với tên thật của mình nên đã lập biên bản xử phạt hành chính đối với bà H về hành vi nói trên, đồng thời quyết định hủy hồ sơ cấp Chứng minh nhân dân và thu hồi Chứng minh nhân dân mang tên Đỗ Thị T số [...] do Công an tỉnh S (cũ) cấp năm 1995; 285344628 do Công an tỉnh B cấp năm 2008, cấp đối năm 2017 và cấp lại Căn cước công dân cho mới mang tên Phạm Thị H, sinh ngày 01/5/1975, số CCCD [...], ngày 20/10/2024.

Do bà H đã khai sai tên trong hồ sơ đăng ký kết hôn. Thông tin cá nhân không đúng sự thật đã dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận kết hôn không đảm bảo tính hợp pháp theo quy định tại Điều 9 và Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên đề nghị Quý Tòa xem xét hủy Giấy chứng nhận kết hôn số 89, quyển số 01/2013 ngày 12/8/2013 giữa ông Đỗ Văn D và bà Đỗ Thị T vì hồ sơ đăng ký kết hôn không trung thực, vi phạm điều kiện về việc kê khai thông tin chính xác, trung thực khi đăng ký kết hôn.

Về yêu cầu ly hôn: Đề nghị Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Đỗ Văn D vì cả hai không còn tình cảm, bất đồng quan điểm sống, không có sự tin tưởng lẫn nhau và không thể tiếp tục chung sống với nhau.

Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Có 01 con chung Đỗ Ngọc Huyền A, sinh ngày 05/12/2018; Bà H yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và các vấn đề khác: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.

* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn Đỗ Văn D trình bày:

Ông D thừa nhận Giấy đăng ký kết hôn giữa ông D và bà Phạm Thị H (tên thường sử dụng là Đỗ Thị T, sinh ngày 11/5/1975) là trái quy định pháp luật vì bà H sử dụng tên Đỗ Thị T, sinh ngày 11/5/1975 (không đúng với tên thật của mình) để làm giấy tờ cư trú (hộ khẩu, chứng minh nhân dân...) và đăng ký kết hôn với ông D.

Sau này, khi bà H đi làm căn cước công dân trên hệ thống điện tử quốc gia, đã không đăng ký được vì tên không đúng nên bị Công an lập biên bản xử phạt hành chính về hành vi này và cấp lại căn cước công dân theo tên thật là Phạm Thị H, sinh ngày 01/5/1975.

Ông D khẳng định Đỗ Thị T trong giấy kết hôn, Giấy khai sinh của con chung và các giấy tờ khác và tên Phạm Thị H trong Giấy căn cước công dân là một người.

Vì vậy ông D cũng đề nghị Tòa án xem xét hủy Giấy chứng nhận kết hôn hôn số 89 ngày 12/8/2013 tại UBND thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước cấp cho ông Đỗ Văn D bà Đỗ Thị T.

Về hôn nhân: ông D và bà Phạm Thị H (tên thường gọi là Đỗ Thị T) kết hôn với nhau tự nguyện vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận kết hôn số 89 ngày 12/8/2013 như cô H trình bày là đúng.

Vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, do bất đồng quan điểm sống, nên thường xảy ra nhiều mâu thuẫn, cuộc sống không có hạnh phúc. Tôi xác định tình cảm vợ chồng đã thực sự hết nên đồng ý ly hôn với bà H và đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn theo yêu cầu.

Về con chung: Có 01 con chung tên là Đỗ Ngọc Huyền A, sinh năm ngày 05/12/2018; khi ly hôn ông D đồng ý giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và các vấn đề khác: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của các bên đương sự, Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

1.Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Phạm Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Đỗ Văn D; yêu cầu Tòa án giải quyết con chung; không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng và tài sản chung. Vì vậy, đây là vụ án "Ly hôn, nuôi con" được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Đỗ Văn D có nơi cư trú tại Tổ A, khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

-Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã giao Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật. tại phiên tòa các bên có đơn xin xét xử vắng mặt. hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các bên đương sự.

-Yêu cầu của đương sự:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H và ông Đỗ Văn D chung sống với nhau một cách tự nguyện vào năm 2013, mặc dù có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước nhưng việc đăng ký kết hôn giữa bà H và ông D không tuân thủ đúng theo trình tự thủ tục pháp luật quy định, cụ thể là bà Phạm Thị H đã khai tên giả là Đỗ Thị T, sinh ngày 11/5/1975 để làm Chứng minh nhân dân và sử dụng tên giả đó để đăng ký kết hôn với ông Đỗ Văn D. Mặt khác, bà H có tên thật là Phạm Thị H, sinh ngày 01/5/1975 nhưng trong Giấy đăng ký kết hôn lại ghi là Đỗ Thị T, sinh ngày 15/11/1975 là không đúng họ, tên, ngày tháng sinh của bà H, việc này được bà H và ông D thừa nhận tên ghi trong Giấy kết hôn của bà H là giả nên sự kiện này không cần phải chứng minh. Mặt khác, việc sử dụng tên không đúng sự thật của bà H đã được Cơ quan Công an huyện Đ, tỉnh Bình Phước khẳng định tại số 42/CAH-QLHC ngày 19/01/2024. Vì vậy có cơ sở để xác định Giấy kết hôn của bà Phạm Thị H với ông Đỗ Văn D là không đúng theo quy định của pháp luật vi phạm được quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000, theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình thì “Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định tại Điều 14 của Luật này đều không có giá trị pháp lý”.

Trong quá trình chung sống, bà H và ông D không đồng nhất quan điểm, không biết chia sẻ, cảm thông, giúp đỡ lẫn nhau, không tôn trọng nhau nên xảy ra nhiều mâu thuẫn, dẫn đến ly thân và ly hôn. Mặc dù bà Phạm Thị H và ông Đỗ Văn D xác định tình cảm vợ chồng đã thực sự hết và đồng ý thuận tình ly hôn nhưng như đã phân tích ở trên hôn nhân giữa bà H và ông D không hợp pháp; cũng như việc đăng ký kết hôn không đúng quy định, có sự giả mạo tên tuổi nên việc đăng ký kết hôn cũng như Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 89/2013 quyển số 01 ngày 12/8/2013 giữa bà Phạm Thị H (Đỗ Thị T) và ông Đỗ Văn D không có giá trị pháp lý nên không thể công nhận thuận tình ly hôn của các đương sự mà cần áp dụng Điều 11, Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000; điểm c, khoản 2 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn Phạm Thị H và bị đơn Đỗ Văn D. Đồng thời cần tuyên hủy Giấy chứng kết hôn số 89/2013 quyển số 01 do UBND thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước ký cấp ngày ngày 12/8/2013 cho bà Đỗ Thị T, ông Đỗ Văn D là phù hợp.

[3] Về con chung, tài sản chung: Bà Phạm Thị H và ông Đỗ Văn D có 01 con chung tên Đỗ Ngọc Huyền A, sinh ngày 05/12/2018. Nguyên đơn Phạm Thị H và bị đơn Đỗ Văn D thống nhất thoả thuận giao con chung Đỗ Ngọc Huyền A cho bà Phạm Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi và không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Do các đương sự thống nhất thoả thuận được về con chung nên cần áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự.

[4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm các bên phải nộp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 11, khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; điểm c mục 2 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn Phạm Thị H và bị đơn Đỗ Văn D.

    Tuyên hủy Giấy chứng nhận kết hôn số 89/2013 quyển số 01 do UBND thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước ký cấp ngày 12/8/2013 cho bà Đỗ Thị T, ông Đỗ Văn D.

  2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên, giao con chung Đỗ Ngọc Huyền A cho bà Phạm Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi và không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

    Trong thời gian nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

  3. Về tài sản chung và các vấn đề khác: không xem xét do không có yêu cầu.
  4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng bà Phạm Thị H phải nộp, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị V đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000262 ngày 07/05/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bình Phước;(1)
  • -VKSND huyện Đồng Phú;(1)
  • -THA huyện Đồng Phú; (1)
  • -UBND tt Tân Phú (cqđkkh); (1)
  • -Các đương sự; (2)
  • -Lưu hs; vt (3)

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HNGĐ-ST ngày 04/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ- TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 27/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ- TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không công nhận quan hệ vợ chồng; Hủy giấy chứng nhận kết hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger