Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 27/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 12/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Liên Sơn

Các thẩm phán: Bà Khuất Thị Phương Lan

Ông Mai Tiến Dũng

Thư ký phiên toà ghi biên bản: Ông Phạm Thái An - Thẩm tra viên chính.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Như Quỳnh- Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình, thụ lý số 16/2025/TLPT-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn”. Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 412/2024/LĐ-ST ngày 12/12/2024, của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 07/QĐ-PT ngày 13 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2025/QĐPT-HPT ngày 26/02/2025; giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị H- Sinh năm 1986. (Có mặt)
  2. Hộ khẩu thường trú: Xóm G, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.

    Nơi cư trú: 103 B Tập thể V, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

  3. Bị đơn: anh Bùi Văn H1- Sinh năm 1982. (Có mặt).
  4. Nơi thường trú: Xóm G, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn H1 có tìm hiểu và tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội vào ngày 21/9/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng làm lao động tự do và sinh sống tại xã Đ. Vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc, hoà thuận đến năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm lối sống, phát triển kinh tế gia đình nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Mặc dù đã cố gắng để hàn gắn, được gia đình hai bên khuyên giải nhưng đều không có kết quả. Cuối năm 2023 chị đã làm đơn đến Tòa án xin ly hôn anh H1, được Tòa án hòa giải và vì thương con nên chị đã rút đơn để cùng vè chung sống đoàn tụ với anh H1, Tuy nhiên sau khi rút đơn, anh H1 cũng không gọi điện hay trực tiếp bảo chị quay về chung sống mà từ đó vợ chồng vẫn ly thân từ đầu năm 2023 đến nay, chị H đã về nhà bố mẹ đẻ ở thôn B, xã H, huyện M để ở, không ai còn quan tâm đến ai. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị H xin được ly hôn với anh H1.

Về con chung: Chị và anh Bùi Văn H1 có 01 con chung là cháu Bùi Tấn S, sinh ngày 24/11/2020. Từ khi vợ chồng sống ly thân, con chung ở với anh H1 nên những lần chị đưa đón con đi chơi đều gọi điện và nhắn tín cho anh H1 nhưng không được anh trả lời, tuy vậy khi đón con chung đi chơi tôi vẫn xin phép bố mẹ đẻ của anh H1 thì mới đưa con đi ra khỏi nhà anh H1. Việc thăm nom con chung của chị rất khó khăn do anh H1 ngăn cản, nhiều lần xin anh H1 cho đón con đi chơi hay đi về bên nhà ông bà ngoại, thậm chí kể cả ngày giỗ của bố đẻ chị, chị xin đón con về bên ngoại để ăn giỗ ông của mình nhưng anh H1 lấy lý do con hay bị ốm nên không cho chị đón cho đi bất cứ đâu cả. Thậm chí anh H1 còn dặn cả nhà trường mẫu giáo không cho chị được thăm đón con, nên chị H cho rằng việc thăm hỏi, chăm sóc con chung của chị bị hạn chế và bị xâm phạm ngay cả khi chưa có quyết định giao con chung cho ai nuôi của Tòa án chị cũng đã bị ngăn cấm, hạn chế quyền thăm gặp, đưa đón con chung. Khi con bị ốm đi viện, anh H1 không hề thông báo cho chị được biết nhưng sau đó lại trách móc chị khi con ốm đau chị không quan tâm, ( điều này được anh H1 thừa nhận trước phiên tòa) không gửi tiền về nuôi con chung trong thời gian vợ chồng ly thân, nay chị có nguyện vọng, mong muốn được trực tiếp chăm sóc con chung và tôn trọng, không hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con chung của anh H1. Và chị không đề nghị trợ cấp nuôi con chung từ anh H1. Hiện nay chị H đang làm công nhân cho Công ty T 01 tháng là 12.000.000 đồng nên đảm bảo đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn anh Bùi Văn H1 trình bày: Anh và chị H tự nguyện kết hôn, anh xác nhận thời điểm đăng ký kết hôn như chị H đã trình bày. Trước đây anh và chị H đã thực hiện thủ tục ly hôn tại Toà án nhưng đã được Thẩm phán hoà giải và vợ chồng anh đã rút đơn ly hôn để vợ chồng về hàn gắn. Tuy nhiên, sau khi rút đơn ly hôn vợ chồng vẫn không thể hoà hợp được, vẫn bất đồng quan điểm sống không thể hàn gắn được. Nên nay chị H có đơn xin ly hôn anh đồng ý với quan điểm trình bày của chị H, do tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn nên anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Tấn S, sinh ngày 24/11/2020. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2023 đến nay, chị H chỉ mua được cho con 3 thùng sữa, chưa cấp dưỡng đồng nào cho anh nuôi con chung. Ngày sinh nhật cũng như con đau ốm chị H không về chăm sóc con. Anh thừa nhận không giao con heung cho chị H đưa đi chơi vì một vài lần chị H đưa con chung đi chơi về đều bị sổ mũi, ho sốt... nên những lần sau đó anh không đồng ý cho chị H đón con đi đâu cả, chị H đưa con đi chơi anh cũng không nhất trí. Nay ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Bùi Tấn S và không yêu cầu chị Nguyễn Thị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác. Hiện nay anh H1 mở xưởng cơ khí tại địa phương, thu nhập trung bình 1 tháng từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng nên đảm bảo đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung.

Quan điểm của chị H không đồng ý với trình bày của anh H1 về việc chăm sóc con chung. Mà thực tế là anh đang cản trở quyền thăm nom con chung của chị.

Về tài sản chung và nợ chung: anh xác nhận không có và không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 412/2024/LÐ-ST ngày 12/12/2024, của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội đã xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Bùi Văn H1.
  2. Về con chung: chị Nguyễn Thị H và anh Bùi Văn H1 đều xác nhận có 01 con chung là Bùi Tuấn S1, sinh ngày 24/11/2020. Buộc anh Bùi Văn H1 giao cháu Bùi Tuấn S1 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, anh H1 không phải trợ cấp nuôi con chung cho chị H cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác về người trực tiếp nuôi con chung.
  3. Anh Bùi Văn H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: chị Nguyễn Thị H và anh Bùi Văn H1 đều trình bày không có tài sản chung và nợ chung vợ chồng.
  5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Được đối trừ tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0008231 ngày 04/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo, thi hành án.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, anh Bùi Văn H1 kháng cáo bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 412/2024/LĐ-ST ngày 12/12/2024, của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Nội dung kháng cáo: Đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội sửa bản án sơ thẩm, theo hướng; Giao cho anh Bùi Văn H1 trực tiếp nuôi con chung.

Tại cấp phúc thẩm, các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm: các đương sự không xuất trình các tài liệu chứng cứ mới. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh Bùi Văn H2. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Chị H xác nhận thời gian sống ly thân với anh H1, chị làm công nhân tại Đ, Hà Nam. Hiện nay chị làm công nhân tại khu vực N, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Chị được người họ hàng thân thiết cho ở nhờ nhà lâu dài. Thu nhập của chị 10triệu đồng/tháng.

- Anh H1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là Bùi Tuấn S1 cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Từ năm 2023, chị H ly thân với anh, đi nơi khác sống, anh không được biết nơi ở, nơi làm việc cụ thể của chị H. Hàng tháng chị H đến thăm con được vài lần, mua một ít sữa. Chị H không hề quan tâm đến việc học hành của cháu S1. Toàn bộ việc nuôi dưỡng, học tập của cháu S1 là do anh chịu trách nhiệm. Anh có cửa hàng nhôm kính tại nhà, nên có điều kiện chăm sóc con chung.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau để giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án: Đã thực hiện đúng và đầy đủ các bước tố tụng theo quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: các đương sự đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự.

Đơn kháng cáo của Bị đơn trong thời hạn luật định và nộp tạm ứng án phí đầy đủ nên về hình thức là hợp lệ.

Về nội dung: Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, chị H và anh H1 đã thuận tình ly hôn trước khi mở phiên tòa. Nên áp dụng điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để công nhận thuận tình ly hôn cho chị H, anh H1.

Về con chung: Tại phiên tòa phúc thẩm, qua lời khai của chị H thể hiện nơi làm việc, nơi ở của chị H chưa ổn định. Nếu giao con chung cho chị H sẽ không đảm bảo được sự ổn định về nơi ở, học tập của con chung. Vì vậy, cần giao con chung cho anh H1 tiếp tục nuôi dưỡng mới đảm bảo được quyền lợi tốt nhất cho con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị H, anh H1 đều không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, nên không xét.

Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên và sửa về phần nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1]Bị đơn đã nộp đơn kháng cáo và tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm trong thời hạn quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đều có mặt.

[1.2] Chị Nguyễn Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Bùi Văn H1 có nơi cư trú tại xóm G, xã Đ, huyện M, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của anh Bùi Văn H1:

[2.1] Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, anh H1, chị H đều xác định mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể tiếp tục, đều thống nhất ly hôn. Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, cho chị H ly hôn với anh H1 là có căn cứ. Tuy nhiên, trường hợp này cần phải áp dụng điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, để: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Bùi Văn H1.

[2.1] Về tranh chấp nuôi con chung:

Tài liệu hồ sơ thể hiện: chị H và anh H1 có 01 con chung là Bùi Tấn S, sinh ngày 24/11/2020. Từ năm 2023, khi chị H đi nơi khác sống, con chung do anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Tài liệu trong hồ sơ thể thiện anh H1, chị H đều có đủ điều kiện về kinh tế để trực tiếp nuôi con. Tuy nhiên việc giao con con chung cho ai nuôi cần đảm bảo sự ổn định tốt nhất về tinh thần, vật chất. Hiện nay con chung đang được anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng, đang có điều kiện học tập ổn định tại địa phương nơi anh Hữu sinh S2. Chị H không sinh sống tại địa phương, nơi làm việc chưa ổn định( Khi làm công nhân ở Đ, khi làm công nhân ở quận Đ). Trong thời gian trực tiếp nuôi con, anh H1 đã đảm bảo được sự chăm sóc tốt cho con chung. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình: giao anh H1 trực tiếp nuôi con chung, để đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt của con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H, anh H1 đều không yêu cầu giải quyết, nên không xét.

Chị Nguyễn Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm về con chung. Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của anh Bùi Văn H1, về việc xin nuôi con chung khi ly hôn.

[3] Về án phí:

[3.1]Án phí ly hôn sơ thẩm: các bên đương sự thuận tình ly hôn trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, nên cần áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tiểu mục 1.1 khoản 1, điểm e tiểu mục 1.3 Mục II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án: sửa bán án sơ thẩm về án phí, theo hướng chị H, anh H1 mỗi người phải chịu 75.000đ( Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000 đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008231 ngày 04/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội. Hoàn trả chị H 225.000 đồng.

[3.2] Về án phí ly hôn phúc thẩm: do Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, căn cứ khoản 2 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự: anh Bùi Văn H1 không phải chịu án phí ly hôn phúc thẩm. Hoàn trả anh H1 số tiền 300.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0077002 ngày 23/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: sửa bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 412/2024/LĐ-ST ngày 12/12/2024, của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ: Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

điểm a khoản 3 Điều 4, khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;

điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tiểu mục 1.1 khoản 1, điểm e tiểu mục 1.3 Mục II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận kháng cáo của anh Bùi Văn H1, về việc xin trực tiếp nuôi con chung.
  2. Sửa bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 412/2024/LÐ-ST ngày 12/12/2024, của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Cụ thể như sau:
    1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Bùi Văn H1.
    2. Giao con chung là Bùi Tuấn S1, sinh ngày 24/11/2020 cho anh Bùi Văn H1 trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi có sự thay đổi khác.
    3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Nguyễn Thị H và anh Bùi Văn H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

      Chị Nguyễn Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

    4. Về tài sản chung là động sản và bất động sản: chị Nguyễn Thị H và anh Bùi Văn H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.
    5. Về án phí:
      1. Án phí ly hôn sơ thẩm: chị Nguyễn Thị H và anh Bùi Văn H1, mỗi người phải chịu 75.000đ( Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị Nguyễn Thị H đã nộp 300.000 đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008231 ngày 04/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội. Hoàn trả chị Nguyễn Thị H 225.000 đồng.
      2. Về án phí ly hôn phúc thẩm: anh Bùi Văn H1 không phải chịu án phí ly hôn phúc thẩm. Hoàn trả anh H1 số tiền 300.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0077002 ngày 23/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.

Nơi nhận:

  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - TAND huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục T.H.A DS huyện Mỹ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Liên Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HNGĐ-PT ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hôn nhân gia đình (tranh chấp ly hôn)

  • Số bản án: 27/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hôn nhân gia đình (Tranh chấp ly hôn)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: do không hợp nhau về quan điểm sống. Chị H, anh H sống ly thân mỗi nguồi một noi. Chị H xin ly hôn, anh H đồng ý. Hai bên tranh chấp về người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger