Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THUẬN THÀNH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/DSST

Ngày 26/5/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quế, bà Vũ Thị Lan Anh.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thập – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 96/2025/TLST-DS ngày 8 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và kiện đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 38/2025/QĐXX-DS ngày 5 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự.

Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân xã M, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Địa chỉ: Xóm Đ, xã M, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị H – Chủ tịch HĐQT.

Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Vũ Quang T, sinh năm 1986. Chức vụ - Kiểm soát; Bà Vũ Thị G, sinh năm 1991. Chức vụ - Giám đốc; Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1993. Chức vụ - Cán bộ thẩm định. (đều có mặt)

(Theo văn bản ủy quyền số 08/UQ-QTD ngày 20/3/2025 giữa bà H cho bà G, ông T, bà V).

Bị đơn: Anh Ngô Huy K, sinh năm 1988. (có mặt)

Địa chỉ: Xóm N, xã M, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1987. (có mặt)

    Địa chỉ: Xóm N, xã M, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

  2. Ông Nguyễn Công H1, sinh năm 1958. (có mặt)

    Địa chỉ: Xóm N, xã M, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

  3. Bà Ngô Thị M, sinh năm 1957. (ủy quyền cho ông H1)

    Địa chỉ: Xóm N, xã M, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời khai của đại diện nguyên đơn; lời khai của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà thì nội dung vụ án tóm tắt như sau.

Phía đại diện nguyên đơn trình bày:

Trước thời điểm ngày 12/9/2024 giữa Quỹ tín dụng nhân dân xã M, thị xã T (gọi tắt là Quỹ tín dụng) với vợ chồng anh Ngô Huy K, chị Nguyễn Thị Y cũng đã nhiều lần thực hiện các thỏa thuận tín dụng với nhau.

Ngày 12/9/2024 sau khi thống nhất giữa Quỹ tín dụng với anh K, chị Y đã thỏa thuận và ký với nhau 03 hợp đồng tín dụng, cụ thể.

+ Hợp đồng số TCTT.320/HĐCV với số tiền cho vay là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), lãi suất 10,8%/năm, thời hạn cho vay 06 tháng kể từ ngày vay. Biện pháp bảo đảm tiền vay tín chấp bằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gọi tắt là sổ đỏ) có số sổ 023996 mang tên ông Nguyễn Công H1 đối với thửa đất số 337, tờ bản đồ số 14 đất tại xã M, thị xã T. Hợp đồng ghi tên người vay là anh K, người thừa kế là chị Nguyễn Thị Y nhưng cả anh K, chị Y đều ký ở mục người vay tiền.

+ Hợp đồng số TCTT.350/HĐCV với số tiền cho vay là 1.500.000.000 đồng (Một tỷ, năm trăm triệu đồng chẵn), lãi suất 13,2%/năm, thời hạn cho vay 03 tháng kể từ ngày vay. Biện pháp bảo đảm tiền vay tín chấp bằng sổ đỏ có số sổ 023996 mang tên ông Nguyễn Công H1 đối với thửa đất số 337, tờ bản đồ số 14, đất tại xã M. Hợp đồng ghi tên người vay là anh K, người thừa kế là chị Nguyễn Thị Y nhưng cả anh K, chị Y đều ký ở mục người vay tiền.

+ Hợp đồng số TCTT.351/HĐCV với số tiền cho vay là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng chẵn), lãi suất 14,4%/năm, thời hạn cho vay 03 tháng kể từ ngày vay. Biện pháp bảo đảm tiền vay tín chấp bằng sổ đỏ có số sổ 023996 mang tên ông Nguyễn Công H1 đối với thửa đất số 337, tờ bản đồ số 14, đất tại xã M. Hợp đồng ghi tên người vay là anh K, người thừa kế là chị Nguyễn Thị Y nhưng cả anh K, chị Y đều ký ở mục người vay tiền.

Sau khi ký hợp đồng cho vay, phía Quỹ tín dụng đã giải ngân đủ cho vợ chồng anh K, chị H1 số tiền vay. Tuy nhiên sau đó các khoản nợ đến hạn trả thì vợ chồng anh K, chị Y đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mặc dù đã được phía Quỹ tín dụng đôn đốc nhắc nhở nhiều lần.

Theo nội dung đơn kiện, Quỹ tín dụng nhân dân xã M đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Ngô Huy K phải có nghĩa vụ trả Quỹ tín dụng tổng số tiền nợ bao gồm nợ gốc, nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn với tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 31/3/2025 là 2.515.096.000 đồng. Trường hợp nếu anh K không trả được số nợ thì buộc chị Y phải có nghĩa vụ trả thay.

Phía bị đơn anh Ngô Huy K trình bày:

Phía anh K tại biên bản lấy lời khai ngày 25/4/2025 trình bày xác nhận vợ chồng anh có ký 03 hợp đồng tín dụng như phía Quỹ tín dụng nhân dân xã M đã trình bày. Anh cũng thừa nhận số tiền vay gốc tổng cộng là 2.300.000.000 đồng và chữ ký “K – Ngô Huy K” trong 03 hợp đồng là đúng do anh ký ra. Tuy nhiên anh K cho rằng việc Quỹ tín dụng ghi ngày ký hợp đồng đều trong ngày 12/9/2024 là không đúng vì trong một ngày anh không thể ký vay 03 lần như thế. Về nội dung tín chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 023996 của ông Nguyễn Công H1, anh K cho rằng. Anh có lấy sổ đỏ của ông H1 để đưa cho Q tín dụng làm tin để vay tiền nhưng anh chỉ tín chấp khoản vay 600.000.000 đồng chứ không tín chấp các khoản vay 200.000.000 đồng và khoản vay 1.500.000.000 đồng. Về 03 khoản vay này anh K xác định vợ chồng anh cùng thỏa thuận với Quỹ tín dụng để ký vay, số tiền vợ chồng cùng vay nên anh xác định vợ chồng cùng có nghĩa vụ trả nợ.

Nay phía Quỹ tín dụng có yêu cầu đòi nợ, anh xác nhận vợ chồng còn nợ và sẽ có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc là 2.300.000.000 đồng. Đối với số tiền lãi anh đề nghị Quỹ miễn cho phần lãi và cho vợ chồng anh trả dần khoản tiền nợ này.

Đối với sổ đỏ của ông Nguyễn Công H1, anh K đề nghị Quỹ tạo điều kiện để anh trả cho Q khoản nợ 600.000.000 đồng, sau khi trả xong thì Quỹ trả lại sổ đỏ cho ông H1 và thực hiện xóa thế chấp nếu có.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án trình bày:

Chị Nguyễn Thị Y trình bày:

Phía chị Y thống nhất với lời khai mà anh K đã trình bày. Chị Y cũng xác định 03 khoản vay này là do vợ chồng cùng vay của Quỹ tín dụng, tiền vay dùng vào mục đích làm ăn chung của vợ chồng. Nay phía Quỹ tín dụng có yêu cầu khởi kiện, chị cũng thống nhất như ý kiến của anh K và thống nhất việc cả hai vợ chồng chị đều có nghĩa vụ trả nợ cho Quỹ tín dụng.

Phía ông Nguyễn Công H1, bà Ngô Thị M do ông H1 đại diện trình bày:

Chị Nguyễn Thị Y là con gái ông và bà M, anh K là chồng chị Y và là con dể của ông bà.

Ông bà trước thời điểm năm 2017 được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận sử dụng đối với diện tích đất 927,1m² tại số thửa 237, tờ bản đồ số 14 đất Xóm T, xã M, thị xã T. Năm 2017 ông có tách thửa và cho chị Y một phần diện tích đất, phần còn lại có diện tích 723m² và có số thửa 337 tờ bản đồ số 14 là tài sản của ông với bà Ngô Thị M, thửa đất vẫn dùng sổ đỏ cũ có số O 023996 cấp ngày 13/4/1999, chỉ có đăng ký biến động cho chị Y một phần diện tích.

Về việc sử dụng sổ đỏ này thì giữa vợ chồng ông với Quỹ tín dụng và với vợ chồng anh K, chị Y không có thỏa thuận gì. Vợ chồng ông không có thỏa thuận để vợ chồng anh K, chị Y lấy làm tài sản tín chấp để vay vốn của Quỹ tín dụng Mão Điền đối với 03 khoản vay mà Q kiện đòi.

Nay Quỹ tín dụng có yêu cầu khởi kiện đối với vợ chồng anh K, chị Y, sự việc có liên quan đến việc Quỹ tín dụng đang giữ sổ đỏ của ông. Ông là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ kiện có yêu cầu độc lập đối với phía nguyên đơn. Ông H1 đề nghị Tòa án giải quyết buộc phía Quỹ tín dụng phải trả lại ông Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 023996 cấp ngày 13/4/1999 đối với thửa đất số 337 tờ bản đồ số 14, đất tại xã M, thị xã T.

Tại phiên tòa các đương sự trình bày yêu cầu và có ý kiến tranh tụng:

Phía Quỹ tín dụng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng anh K, chị Y phải có nghĩa vụ thanh toán trả Quỹ tín dụng số tiền nợ của 03 hợp đồng tín dụng đã ký với số tiền nợ tạm tính đến ngày 26/5/2025 là 2.587.998.000 đồng, trong đó nợ gốc là 2.300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 81.616.000 đồng, nợ lãi chậm trả 206.382.000 đồng. Đối với sổ đỏ tên ông H1 mà Q đang giữ, phía Quỹ cho rằng ông H1 đã có văn bản đồng ý để anh K tín chấp vào Quỹ để vay tiền. Do vậy Quỹ đề nghị khi nào vợ chồng anh K, chị Y thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Quỹ tín dụng sẽ trả lại ông H1.

Phía anh K, chị Y nhất trí xác nhận có nghĩa vụ trả Quỹ tín dụng số tiền nợ gốc như 03 hợp đồng tín dụng đã ký. Tuy nhiên do việc làm ăn khó khăn nên đề nghị Quỹ miễn cho một phần số tiền lãi suất. Đối với sổ đỏ của ông H1 mà vợ chồng đã tín chấp cho Q để vay tiền. Anh K, chị Y vẫn xác định chỉ tín chấp để vay khoản tiền 600.000.000 đồng. Do đó trường hợp anh chị trả cho Q số tiền vay này thì đề nghị Q phải trả lại ông H1 sổ đỏ đang giữ.

Phía ông H1 vẫn xác định giữa ông với Quỹ tín D, với vợ chồng anh K, chị Y không có thỏa thuận về việc tín chấp sổ đỏ của ông. Ông H1 giữ yêu cầu độc lập đối với Quỹ, yêu cầu Quỹ tín dụng phải trả ông Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 023996 cấp ngày 13/4/1999.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Trong thời gian chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, những người tiến hành tố tụng khác cũng như nguyên đơn, bị đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với người có quyền nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án tiến hành đầy đủ thủ tục tố tụng nhưng đều đề nghị vắng mặt nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt là có căn cứ.

Về giải quyết vụ án: Tại phiên tòa vợ chồng anh K, chị Y đều thống nhất xác định và có nghĩa vụ trả Quỹ số tiền nợ gốc theo 03 hợp đồng tín dụng đã ký, chỉ đề nghị giảm lãi nhưng không được Quỹ tín dụng chấp nhận. Do vậy cần buộc vợ chồng anh K, chị Y phải có nghĩa vụ thanh toán trả Quỹ tín dụng số tiền nợ gốc và lãi tính đến thời điểm xét xử là 2.587.998.000 đồng. Đối với yêu cầu độc lập của ông H1 đòi Quỹ tín dụng phải trả lại sổ đỏ đất. Do việc Quỹ giữ sổ đỏ đất của ông H1 là không có căn cứ pháp luật nên cần chấp nhận yêu cầu của ông H1, buộc Quỹ tín dụng phải có nghĩa vụ trả ông H1 sổ đỏ đất của thửa đất số 337, tờ bản đồ số 14 đất tại xã M, thị xã T.

Về án phí: Vợ chồng anh K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật đối với yêu cầu của Quỹ tín dụng được chấp nhận. Phía Quỹ tín dụng phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu của ông H1 được chấp nhận.

Từ nội dung trên:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Xem xét tài liệu chứng cứ do các bên đương sự cung cấp cũng như chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án:

[1]. Về tố tụng:

Yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở xã M, đề nghị Toà án giải quyết buộc vợ chồng anh Nguyễn Huy K1, chị Nguyễn Thị Y phải trả lại số tiền còn nợ theo 03 hợp đồng vay tín dụng là tranh chấp về hợp đồng được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Yêu cầu độc lập của ông H1 yêu cầu Quỹ tín dụng phải trả lại sổ đỏ đang cầm giữ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Phía bị đơn có địa chỉ tại thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, do vậy việc Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng là đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung giải quyết tranh chấp:

[2.1]. Đối với yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng đối với anh K1, chị Y:

Căn cứ vào lời trình bày của đại diện Quỹ tín dụng, vào tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện mà phía Quỹ tín dụng cũng cấp trong thời gian chuẩn bị xét xử và lời thừa nhận 03 khoản tiền nợ của phía anh K1, chị Y thì xác định được.

Ngày 12/9/2024 giữa Quỹ tín dụng nhân dân xã M với vợ chồng anh Ngô Huy K, chị Nguyễn Thị Y đã thống nhất và thỏa thuận ký với nhau 03 hợp đồng tín dụng là các Hợp đồng số TCTT.320/HĐCV với số tiền vay 200.000.000 đồng; Hợp đồng số TCTT.350/HĐCV với số tiền vay 1.500.000.000 đồng và Hợp đồng số TCTT.351/HĐCV với số tiền vay 600.000.000 đồng. Anh K, chị Y thừa nhận vợ chồng thống nhất ký vay 03 khoản vay này. Số tiền nợ gốc này vợ chồng anh K, chị Y đã nhận giải ngân. Tuy nhiên đến hạn trả nợ vợ chồng anh K2, chị Y không trả được nợ, vợ chồng anh K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay tài sản.

Tại phiên tòa vợ chồng anh K, chị Y thừa nhận còn nợ khoản nợ gốc 2.300.000.000 đồng. Do vậy căn cứ các Điều 463, Điều 466 của BLDS quy định về hợp đồng vay tài sản, về nghĩa vụ của bên vay tài sản (tiền) cần buộc vợ chồng anh K, chị Y phải có nghĩa vụ thanh toán trả lại Quỹ tín dụng số tiền nợ gốc còn nợ là 2.300.000.000 đồng.

Về yêu cầu tính lãi suất: Các hợp đồng tín dụng giữa Quỹ tín dụng với vợ chồng anh K, chị Y các bên đều có thỏa thuận về lãi suất lần lượt là 10,8%/năm, 13,2%/năm và 14,4%/năm. Thỏa thuận lãi suất này phù hợp với quy định về lãi suất cho vay theo khoản 1 Điều 468 của BLDS nên có giá trị pháp lý để thực hiện. Phía vợ chồng anh K cũng đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền lãi theo thỏa thuận. Do vậy cần buộc vợ chồng anh K, chị Y phải có nghĩa vụ thanh toán trả Quỹ tín dụng số tiền nợ lãi tạm tính đến ngày 26/5/2025 là 287.998.000 đồng. Trong đó nợ lãi trong hạn 81.616.000 đồng, nợ lãi quá hạn 206.382.000 đồng.

Tổng cộng số tiền nợ gốc, lãi vợ chồng anh K, chị Y có nghĩa vụ thanh toán trả Quỹ tín dụng là 2.587.998.000 đồng.

Về lãi suất chậm thi hành án: Anh K, chị Y tiếp tục phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

[2.2]. Đối với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Công H1 với phía nguyên đơn:

Xem xét 03 hợp đồng tín dụng giữa Quỹ tín dụng với vợ chồng anh K, chị Y, cũng như toàn bộ các chứng cứ thu thập được trong thời gian giải quyết vụ kiện thì không có văn bản thỏa thuận nào về việc ông Nguyễn Công H1 thế chấp tài sản là thửa đất số 337, tờ bản đồ 14 đất tại xã M, thị xã T để bản bảo cho 03 khoản vay của vợ chồng anh K, chị Y.

Phía Quỹ tín dụng cho rằng khi thỏa thuận vay tiền phía anh K đã đưa cho Q tín dụng 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Công H1 để tín chấp làm tin nên phía Quỹ tín dụng không chấp nhận yêu cầu của ông H1 đòi lại sổ đỏ. Quỹ đề nghị khi nào vợ chồng anh K, chị Y hoàn tất việc trả nợ thì Q sẽ trả lại sổ đỏ cho ông H1.

Xem xét các yêu cầu, ý kiến của các bên đương sự thì thấy: Giữa Quỹ tín dụng với ông H1, với vợ chồng anh K, chị Y không có thỏa thuận về việc thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phía Quỹ tín dụng cho rằng anh K, chị Y có tín chấp bằng sổ đỏ của ông H1 nhưng việc tín chấp này không phù hợp với quy định của pháp luật được quy định tại Điều 344, Điều 345 của BLDS nên bị vô hiệu và không có giá trị pháp lý để thực hiện. Quỹ tín dụng cầm giữ sổ đỏ của ông H1 không có căn cứ pháp luật theo quy định tại Điều 166 của BLDS nên yêu cầu của ông H1 đề nghị Quỹ tín dụng phải trả lại sổ đỏ là có căn cứ, cần được chấp nhận.

[3]. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng được chấp nhận nên Quỹ tín dụng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Anh K, chị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải trả nợ quỹ tín dụng. Quỹ tín dụng phải chịu án phí không có giá ghạch đối với yêu cầu của ông H1 được chấp nhận.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 147, 235, 264, 266, 271, 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Điều 166, 344, 345, 463, 466 và 468 của Bộ Luật dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở xã M, xã M, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh đối với vợ chồng anh Ngô Huy K, chị Nguyễn Thị Y về việc yêu cầu trả tiền nợ gốc, tiền nợ lãi theo các hợp đồng tín dụng số TCTT.320/HĐCV; hợp đồng số TCTT.350/HĐCV và Hợp đồng số TCTT.351/HĐCV đều ký ngày 12/9/2024 giữa Quỹ tín dụng với anh K, chị Y.

    Buộc vợ chồng anh Ngô Huy K, chị Nguyễn Thị Y phải trả Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở xã M, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh số tiền tạm tính đến ngày 26/5/2025 với số tiền phải trả là là 2.587.998.000 đồng. Trong đó tiền nợ gốc 2.300.000.000 đồng (Hai tỷ, ba trăm triệu đồng), tiền nợ lãi trong hạn là hạn 81.616.000 đồng, nợ lãi quá hạn hạn 206.382.000 đồng.

    Vợ chồng anh K, chị Y tiếp tục phải trả tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo lãi suất quy định tại 03 hợp đồng tín dụng đã ký, tương ứng với số tiền nợ gốc còn lại đến khi trả xong số tiền nợ.

  2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Công H1 đối với Quỹ tín dụng nhân dân xã M, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

    Buộc Quỹ tín dụng nhân dân xã M phải có nghĩa vụ trả ông Nguyễn Công H1, bà Ngô Thị M do ông H1 đại diện 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 023996 đứng tên hộ ông Nguyễn Công H1 do UBND huyện T (Nay là thị xã T) cấp ngày 13/4/1999 đối với thửa đất số 337, tờ bản đồ số 14 đất tại M, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

    Trường hợp Quỹ tín dụng Mão Đ không giao trả bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên thì ông H1 được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí: Anh K, chị Y phải chịu 83.759.960 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở xã M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ một phần vào số tiền 41.150.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001720 ngày 8/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Trả lại Quỹ tín dụng số tiền 40.850.000 đồng tạm ứng án phí còn lại.

  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp quyết định, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận

- TAND tỉnh Bắc Ninh.

- VKSND thị xã Thuận Thành.

- Chi cục THADS thị xã Thuận Thành.

- Các đương sự.

- Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Sỹ Cây

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/DSST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng.

  • Số bản án: 27/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp giữa Quỹ tín dụng với anh Ngô Huy Kh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger