Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH KHÁNH HÒA

———————

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 27/2025/DSPT

Ngày 17 tháng 3 năm 2025

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HOÀ

———————

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Trầm

Các thẩm phán: Bà Lương Ngọc Yến Anh

Ông Nguyễn Trung Tín

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Trương Ngọc Thiện – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hoà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 10 và ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 100/2024/TLPT-DS ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất

Do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đối với Bản án số: 81/2023/DS-ST ngày 20/12/2023 của Toà án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hoà theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 42/QĐKNPT-DS ngày 12/01/2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXPT- DS ngày 07 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, giữa:

Nguyên đơn: Ông Trần Lê Việt H, sinh năm 1985; địa chỉ: TDP D, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Lê Việt H: Ông Trần Đức M, sinh năm 1959; địa chỉ: TDP D, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

Bị đơn:

  1. Bà Phan Thị H1, sinh năm: 1946; địa chỉ: Thôn B, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị H1: Ông Nguyễn C, sinh năm: 1944; địa chỉ: Thôn B, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

  3. Ông Nguyễn C, sinh năm: 1944; địa chỉ: Thôn B, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
  4. Ông Nguyễn Quỳnh Đ, sinh năm: 1969;
  5. Bà Phan Thị Ngọc H2, sinh năm: 1971;
  6. Bà Nguyễn Quỳnh N, sinh năm: 2000;
  7. Ông Nguyễn Trọng V, sinh năm: 1997;

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố E, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

Ông Đ có mặt. Bà H2, ông V, bà N vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Ngô Hữu H3, sinh năm: 1972; địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1981; địa chỉ: TDP A, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  3. Ông Võ Nguyên V1, sinh năm: 1981; địa chỉ: TDP C, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt
  4. Bà Nguyễn Thị Diệu H4, sinh năm: 1992; địa chỉ: TDP A, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  5. Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm: 1951; địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  6. Ủy ban nhân dân thị xã N.

Người đại diện theo uỷ quyền: ông Hà T, Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã N. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Trần Đức M trình bày:

Năm 2018, ông Trần Lê Việt H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 193, tờ bản đồ số 58, diện tích 115,5m, tọa lạc tại tổ dân phố E phường N, thị xã N của ông Võ Nguyên V1 và được Ủy ban nhân dân (Ủy ban nhân dân viết tắt là UBND) thị xã N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất viết tắt là GCN) số CM517274, số vào số cấp GCN: CH-01440 ngày 03/5/2018, có tứ cận: phía Bắc giáp nhà bà Phan Thị H1 thuộc thửa 192 và bà Đoàn Thị D thuộc thửa 155; phía Nam giáp thửa 194; phía Đông giáp thửa 154 và phía Tây giáp đường T.

Sau khi được cấp GCN, ông H kiểm tra hiện trạng đất thì phát hiện thửa đất 193 do hộ gia đình bà Phan Thị H1 đang sử dụng thửa đất 192 liền kề lấn chiếm diện tích 10,6m, cụ thể: bức tường nhà bà H1 và bức tường cũ của nhà ông Ngô Hữu H3 từ đường T kéo dài ra sau là 5m, phần khe giữa vách tường nhà bà H1 và vách tường nhà ông H3 có đường luồng và nhà vệ sinh là 5,6m.

Đối với phần diện tích lấn chiếm 5,0m² gắn với kết cấu tường nhà của bà Phan Thị H1, ông H không tranh chấp, ông đồng ý giao phần đất này cho gia đình bà H1 sử dụng. Ông H yêu cầu hộ gia đình bà Phan Thị H1 gồm bà Phan Thị H1, ông Nguyễn C, ông Nguyễn Quỳnh Đ, bà Phan Thị Ngọc H2, bà Nguyễn Quỳnh N, ông Nguyễn Trọng V tháo dỡ nhà vệ sinh trên đất, trả lại cho ông H diện tích 5,6m² đất nêu trên.

Ý kiến của bà Phan Thị H1 có trong hồ sơ:

Bà là chủ sử dụng nhà đất thuộc thửa số 192, tờ bản đồ số 58, tọa lạc tại tổ dân phố E phường N, thị xã N, hiện tại chưa được cấp GCN. Trước đây, mẹ bà là Lê Thị D1 và bà Lê Thị L (em bà D1) cùng mua chung thửa đất của ông Phan Long T1 có chiều dài 19m, chiều ngang 10m, trên đất có 2 căn nhà cấp 4. Bà D1 và bà L thỏa thuận lấy vách tường ngăn giữa 2 nhà làm ranh giới phân chia nhà đất, không thỏa thuận rõ diện tích mỗi bên bao nhiêu m²?. Sau đó, bà D1 tiếp tục cắt một phần đất phía sau nhà cho em ruột Lê Thị T2, nay là bà Đoàn Thị D quản lý, sử dụng. Khi đó, ba gia đình bà D1, bà L, bà T2 sử dụng chung một giếng nước, hai nhà vệ sinh (của bà và của bà T2) nằm trên phần đất phía sau nhà bà L. Gia đình bà sử dụng đường luồng phía sau để đi ra nhà vệ sinh và giếng nước. Quá trình sử dụng, bà L và con trai là ông Ngô Hữu X có xây dựng thêm phần nhà phía sau nên không sử dụng nhà vệ sinh chung nữa. Sau khi bà L chết thì để lại nhà đất cho con trai Ngô Hữu X và nay là cháu nội ông Ngô Hữu H3 quản lý, sử dụng. Khi ông H3 làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà có ký giáp ranh nhưng không biết ông H3 kê khai diện tích bao nhiêu m và có phần diện tích giếng nước và nhà vệ sinh chung.

Năm 2016, ông Ngô Hữu H3 và bà thống nhất để ông H3 đập nhà vệ sinh cũ và xây nhà vệ sinh mới trên đường luồng lối đi ra nhà vệ sinh cho bà sử dụng. Ông H3 bán nhà và đất cho bà Nguyễn Thị P, bà P đập bỏ nhà cũ và 2 nhà vệ sinh phía sau nhưng bức tường ngăn giữa nhà bà và ông H3 vẫn còn. Sau đó, thửa đất được bán cho ông Võ Nguyên V1, ông V1 bán cho ông Trần Lê Việt H. Quá trình chuyển nhượng giữa các bên vẫn thuận mua vừa bán với hiện trạng ranh đất là bức tường từ trước đến nay nên bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H.

Ý kiến của ông Nguyễn C có trong hồ sơ và tại phiên tòa:

Ông thống nhất ý kiến của bà Phan Thị H1. Ông xác định ranh giới thửa đất 192 và 193 là bức vách tường nhà có từ khi mua nhà đất của ông Phan Long T1 do bà Lê Thị L và bà Lê Thị D1 thỏa thuận. Ông H khởi kiện yêu cầu gia đình ông trả lại diện tích đất lấn chiếm 5,6m² thuộc thửa 193 là không có cơ sở.

Ý kiến của ông Nguyễn Quỳnh Đ có trong hồ sơ và tại phiên tòa:

Ông thống nhất ý kiến của bà H1 và của ông C, ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông H vì diện tích đất mà ông H tranh chấp thì gia đình ông đã sử dụng từ lâu.

Ý kiến của ông Nguyễn Trọng V tại phiên tòa: Ông thống nhất ý kiến của ông C, ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông H.

Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, hộ gia đình bà H1 gồm bà Phan Thị H1, ông Nguyễn C, ông Nguyễn Quỳnh Đ, bà Phan Thị Ngọc H2, ông Nguyễn Trọng V, bà Nguyễn Quỳnh N có đơn yêu cầu phản tố, buộc ông H trả lại cho gia đình ông bà diện tích đất 9m là phần đất phía sau nhà ông H3 mà trước đây hai gia đình sử dụng chung để làm giếng nước và nhà vệ sinh và thuộc phần diện tích đất chồng lấn của thửa 192 và 193. Qua đo đạc hiện trạng do ông Đ chỉ vị trí thì diện tích sử dụng chung là 12m² thuộc thửa 193. Ông C, ông Đ, ông V có mặt tại phiên tòa thống nhất diện tích 12m² nói trên.

Ý kiến của ông Ngô Hữu H3 có trong hồ sơ:

Nguồn gốc thửa đất số 193, tờ bản đồ số 58, bản đồ địa chính phường N là do ông nhận thừa kế của ông Ngô Hữu X năm 2014. Ông đã tiến hành đo đạc để có cơ sở xác định diện tích đất được thừa kế 115,5 m² và được UBND thị xã N cấp GCN số BV 669590, số vào số GCN: CH02958 ngày 24/3/2015.

Năm 2016, ông xây nhà vệ sinh diện tích 1,2m² (trị giá 10.000.000 đồng) trên đường luồng đi ra giếng nước thuộc thửa đất 193 để gia đình bà H1, ông Đ sử dụng. Năm 2017, ông chuyển nhượng thừa 193 cho bà Nguyễn Thị P; ông có nói với bà P là nhà vệ sinh và đường luồng đi ra nhà vệ sinh đã cho bà H1 sử dụng nên bà P không được khiếu nại gì về sau, bà P thống nhất nhưng các bên không lập văn bản xác nhận nội dung này. Bà P thế chấp quyền sử dụng đất cho Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh N1 để vay tiền nhưng không trả nên ngân hàng phát mãi tài sản và ông Võ Nguyên V1 mua lại thửa đất.

Năm 2018, ông V1 chuyển nhượng thửa đất cho ông Trần Lê Việt H và ông H có tranh chấp với gia đình bà H1 về diện tích đất bị thiếu. Ông xác định phần diện tích đường luồng và nhà vệ sinh thuộc thửa đất 193 đã được cấp GCN năm 2015 cho ông; khi ông chữa bán cho bà P thì ông đã cho bà H1 phần diện tích đất đường luồng và nhà vệ sinh, khi bán rồi thì chủ mới có quyền định đoạt vấn đề này; phần diện tích đất đường luồng bà Phan Thị H1 sử dụng từ năm 1971 đến nay, ranh giới được xác định là vách nhà sau của ông X và phần vách lửng hiện nay vẫn còn. Việc ông H mua đất đã xác định ranh giới theo hiện trạng, các bên thuận mua vừa bán nếu tranh chấp thì các bên tự giải quyết với nhau.

Ý kiến của ông Võ Nguyên V1 có trong hồ sơ:

Năm 2018, ông nhận chuyển nhượng thửa đất 193, tờ bản đồ số 58 bản đồ địa chính phường N từ Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh N1, thửa đất này là của bà Nguyễn Thị P thế chấp cho Ngân hàng, vì không có tiền trả nợ vay nên Ngân hàng phát mãi tài sản và Ngân hàng chuyển nhượng cho ông để thu hồi vốn vay. Tại thời điểm chuyển nhượng là đất trống, trước đây trên đất có căn nhà nhưng ai tháo dỡ thì ông không biết. Công trình phụ mà ông Đ sử dụng đã được xây dựng trước khi ông nhận chuyển nhượng, còn thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ai thì ông cũng không biết. Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông không sử dụng, khoảng 2, 3 tháng sau thì ông chuyển nhượng lại cho ông H với diện tích đất là 115,5m². Nay ông H tranh chấp đất với bà H1 thì ông không có ý kiến gì.

Ý kiến của bà Nguyễn Thị Diệu H4 có trong hồ sơ:

Bà là vợ của ông Trần Lê Việt H. Ông H có mua thửa đất 193, tờ bản đồ 58 tại tổ dân phố E, phường N. Ông H tranh chấp đất với hộ liền kề bà Phan Thị H1, bà thống nhất nội dung yêu cầu khởi kiện của ông H. Bà yêu cầu vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.

Ý kiến của bà Nguyễn Thị C1 có trong hồ sơ:

Nguồn gốc thửa đất 193 ông H đang tranh chấp với hộ gia đình bà Phan Thị H1 trước đây là của bà Lê Thị L, bà không nhớ diện tích bao nhiêu. Bà L chết để lại cho ông Ngô Hữu X (là chồng của bà). Ông X chết thì để lại thừa kế cho con trai bà là Ngô Hữu H3, sau đó ông H3 chuyển nhượng lại cho bà P. Việc tranh chấp đất giữa ông H và gia đình bà H1, đề nghị Tòa án liên hệ với bà P để biết rõ, bà không có ý kiến gì. Bà đề nghị vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.

Ý kiến của ông Trần Thế M1 đối với yêu cầu phản tố của bị đơn:

Ông không đồng ý yêu cầu phản tố của bị đơn vì diện tích đất ông H nhận chuyển nhượng theo GCN là 115,5m², ông không biết phần diện tích đất giếng nước trước đây các gia đình sử dụng như thế nào.

Bà Phan Thị Ngọc H2 và bà Nguyễn Quỳnh Đ đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có lời khai. Tuy nhiên, ngày 12/12/2023, Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa nhận được giấy báo vắng mặt của bà H2 và bà N về việc vắng mặt tại phiên tòa và thống nhất ý kiến của ông C và ông Đ trước Tòa án.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hoà phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. - Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả lại diện tích đất lấn chiếm 5,6m² thuộc thửa 193, tờ bản đồ 58 phường N, vì diện tích đất này bị đơn đã sử dụng ổn định từ trước đến nay và ranh giới là bức tường, lời khai của ông H3 có trong hồ sơ cũng thể hiện phần diện tích đường luồng này thuộc quyền sử dụng của gia đình bà H1. Do đó việc cấp GCN cho ông H3 với diện tích 115,5m² là không đúng với hiện trạng gia đình bà H1 sử dụng.

+ Bác yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc nguyên đơn trả lại 12m diện tích đất giếng nước và diện tích chồng lấn của thửa 192 và 193, vì phần diện tích đất này ông H3 được nhận thừa kế từ ông bà cha mẹ, trên đất trước đây có nhà vệ sinh chung cho cả 3 gia đình cùng sử dụng nhưng sau đó bà D xây nhà mới không sử dụng nữa, còn lại gia đình ông H3 và gia đình bà H1 sử dụng, sau đó ông H3 chuyển nhượng cho bà P, vì không muốn ảnh hưởng đến chủ đất mới nên ông H3 mới thoả thuận xây nhà vệ sinh mới cho gia đình bà H1 sử dụng trên đường luồng như hiện nay.

Tại Bản án sơ thẩm số: 81/2023/DS-ST ngày 20/12/2023 của Toà án nhân dân thị xã Ninh Hòa tuyên xử: Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 35; Điều 147; Điều 157; Điều 227; Điều 228; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 166, 170, 203 Luật Đất đai năm 2013;

- Căn cứ vào Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQU14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Lê Việt H:
  2. Buộc bà Phan Thị H1, ông Nguyễn C, ông Nguyễn Quỳnh Đ, bà Phan Thị Ngọc H2, bà Nguyễn Quỳnh N, ông Nguyễn Trọng V tháo dỡ nhà vệ sinh, các công trình trên diện tích đất đường luồng và trả lại cho ông Trần Lê Việt H diện tích đất 5,6m² thuộc thửa đất 193, tờ bản đồ số 58 tại tổ dân phố E, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

  3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Phan Thị H1, ông Nguyễn C, ông Nguyễn Quỳnh Đ, bà Phan Thị Ngọc H2, bà Nguyễn Quỳnh N, ông Nguyễn Trọng V về việc yêu cầu ông Trần Lê Việt H trả lại diện tích đất dùng chung giếng nước và nhà vệ sinh 12m² thuộc thửa 193, tờ bản đồ số 58 tại tổ dân phố E, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký biến động diện tích đất sử dụng theo quy định của pháp luật đất đai

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí, quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 17/01/2024, Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa nhận được Quyết định 42/QĐKNPT-DS ngày 12/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đối với Bản án dân sự sơ thẩm số: 81/2023/DS-ST ngày 20/12/2023 của Toà án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hoà, yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử sửa bản án dân sự sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên toà phúc thẩm: đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hoà rút nội dung kháng nghị theo Quyết định kháng nghị số 42/QĐKNPT-DS ngày 12/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa

Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn và đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn đồng ý với nội việc rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đều thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn ông Trần Lê Việt H và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Trần Đức M có đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Bị đơn đồng ý với việc rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hoà rút nội dung kháng nghị theo Quyết định kháng nghị số 42/QĐKNPT-DS ngày 12/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Đề nghị Hội đồng xét xử huỷ một phần bản án dân sự sơ thẩm, đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Lê Việt H về việc buộc bị đơn phải trả lại phần đát có diện tích 5,6m². Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực kể từ thời điểm hết kháng cáo kháng nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn bà Phan Thị H1 có đơn kháng cáo quá hạn đối với bản án dân sự sơ thẩm số 81/2024/DS-ST ngày 20/12/2023. Xét thấy, tại Quyết định không chấp nhận kháng cáo quá hạn số 09/2024/QĐ-PT ngày 14/5/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà quyết định không chấp nhận kháng cáo quá hạn của bà Phan Thị H1 đối với bản án dân sự sơ thẩm số 81/2023/DS-ST ngày 20/12/2023 của Toà án nhân dân thị xã Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà nên Hội đồng xét xử không xem xét kháng cáo của bà Phan Thị H1.

[2] Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn ông Trần Lê Việt H và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Trần Đức M rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, buộc bà Phan Thị H1, ông Nguyễn C, ông Nguyễn Quỳnh Đ, bà Phan Thị Ngọc H2, ông Nguyễn Trọng V, bà Nguyễn Quỳnh N phải tháo dỡ nhà vệ sinh trên đất trả lại cho ông Trần Lê Việt H phần đất có diện tích 5,6m². Bị đơn đồng ý với việc rút yêu cầu kiện của nguyên đơn. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hoà rút toàn bộ nội dung kháng nghị theo Quyết định kháng nghị số 42/QĐKNPT-DS ngày 12/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Do đó, căn cứ vào Điều 311 Bộ luật tố tụng dân sự, huỷ một phần bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Lê Việt H.

Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 299 và Điều 311 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tuyên xử: Huỷ một phần bản án dân sự sơ thẩm số 81/2023/DS-ST ngày 20/12/2023 của Toà án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hoà và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Lê Việt H về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bị đơn bà Phan Thị H1, ông Nguyễn C, ông Nguyễn Quỳnh Đ, bà Phan Thị Ngọc H2, bà Nguyễn Quỳnh N, ông Nguyễn Trọng V.

Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Chi cục THADS thị xã Ninh Hòa;
  • - TAND thị xã Ninh Hòa;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ; Án văn; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Thị Trầm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/DSPT ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 27/2025/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger