|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC ******** |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc ******** |
Bản án số: 27/2025/DS-ST
Ngày 23 tháng 6 năm 2025
V/v: “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai
Bà Nguyễn Thị Thúy Nga
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 96/2023/TLST- DS ngày 01 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu S, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Xóm T, thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);
Người đại diện theo ủy quyền của ông S: Ông Nguyễn Công H, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Số nhà B, ngõ C đường N, tổ dân phố V, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);
Bị đơn: Ông Hoàng Văn C, sinh năm 1968;
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1969;
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);
- Bà Lê Thị M, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Xóm T, thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền của bà M: Ông Nguyễn Công H, sinh năm 1996; Địa chỉ: Số nhà B, ngõ C đường N, tổ dân phố V, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 11 năm 2023 và các lời khai tiếp theo ông Nguyễn Hữu S trình bày:
Năm 2020 vợ chồng ông có mua 1 thửa đất số 656, tờ bản đồ số 41, diện tích là 65,8 m² tại thôn Đ, xã Đ (nay là phường Đ), thành phố V, tỉnh Vĩnh phúc. Do gia đình ông chưa có nhu cầu sử dụng nên thửa đất chưa xây dựng công trình gì và phần đất giáp với thửa đất của ông C vẫn để trống chưa xây tường. Đến tháng 11/2022 gia đình ông Hoàng Văn C là hộ bên cạnh liền kề với đất của gia đình ông đã tự ý xây dựng móng tường lấn chiếm sang diện tích của gia đình ông chiều rộng là 0,2m, chiều dài là 14,18m, diện tích là 2,83 m². Khi biết sự việc ông sang trao đổi với ông C và đưa cho ông C xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) của ông được cấp năm 2020 nhưng ông C vẫn cố tình xây dựng lấn sang diện tích đất trên.
Tại đơn khởi kiện ông S đề nghị Tòa án buộc ông Hoàng Văn C và bà Nguyễn Thị H1 phải tháo dỡ phần móng tường và vách tôn để trả lại cho gia đình ông 2,83 m² đất
Tại đơn bổ sung đơn khởi kiện ngày 17/01/2025 ông S đề nghị Tòa án buộc ông Hoàng Văn C và bà Nguyễn Thị H1 phải tháo dỡ phần móng tường có chiều rộng là 0,2m, chiều dài là 14,18m, chiều cao là 0,2m; 01 vách tôn dựng trên phần móng có chiều dài 8,34 m, chiều cao 4,5 m và một phần trụ cổng để trả lại cho gia đình ông 2,8 m² đất; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc
- Bị đơn ông Hoàng Văn C tại phiên tòa vắng mặt nhưng tại biên bản lấy lời khai ngày 29/2/2024 ông C trình bày: Vợ chồng ông có thửa đất tại tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, ông không nhớ rõ số thửa, tờ bản đồ và diện tích cụ thể. Thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ đứng tên Hoàng Văn C. Khoảng năm 2018, 2019 ông có chuyển nhượng cho anh Đ một phần diện tích đất của gia đình ông là 190 m², hai bên có chỉ mốc giới cho nhau. Sau đó anh Đ làm thủ tục cấp GCNQSDĐ và anh Đ chuyển nhượng cho ai ông không biết. Ở phần diện tích giáp với diện tích 190 m² đã bán vợ chồng ông có dựng tôn chứ chưa xây tường rào. Nay ông S khởi kiện buộc vợ chồng ông phải trả lại 2,83 m² đất ông không đồng ý vì ông không lấn chiếm đất của ông S.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị M tại bản tự khai trình bày nhất trí với lời trình bày và quan điểm của ông S;
- Bà Nguyễn Thị H1 tại biên bản lấy lời khai nhất trí với lời trình bày và quan điểm của ông C.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên phát biểu quan điểm:
-Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Các đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
-Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng; Điều 175,176 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, 170 Luật đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu S. Buộc ông Hoàng Văn C và bà Nguyễn Thị H1 phải tháo dỡ công trình xây dựng để trả lại cho ông Nguyễn Hữu S và bà Lê Thị M 2,8m² đất có địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có sơ đồ kèm theo). Về chi phí tố tụng và án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Ông Lê Văn S1 khởi kiện yêu cầu bà ông Hoàng Văn C bà Nguyễn Thị H1 phải tháo dỡ công trình xây dựng để trả lại cho ông 2,8 m² đất. Đây là tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Khi thụ lý vụ án Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp quyền sử dụng đất. Đến nay Tòa án xác định lại quan hệ tranh chấp là tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất. Bị đơn ông Hoàng Văn C có địa chỉ tại Tổ dân phố Đ, xã Đ (nay là phường Đ), thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.
[1.2]. Về pháp luật áp dụng: Các đương sự tranh chấp năm 2023 nên áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015, luật đất đai năm 2013, bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về sự vắng mặt của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa bị đơn ông Hoàng Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo thủ tục chung.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Căn cứ biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân (UBND) phường Đ về nguồn gốc thửa đất tranh chấp thấy rằng: Thửa đất 642, tờ bản đồ số 41, diện tích 415 m²; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ (nay là tổ dân phố Đ, phường Đ), thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc đứng tên ông Hoàng Văn C. Năm 2019 ông C tách thửa đất số 642 thành 2 thửa là thửa số 642, tờ bản đồ số 41, diện tích 225 m² và thửa 643, tờ bản đồ số 41, diện tích 190 m² đứng tên Hoàng Văn C, sau đó ông Hoàng Văn C cùng vợ là bà Nguyễn Thị H1 đã chuyển nhượng thửa đất số 643, tờ bản đồ số 41, diện tích 190 m² cho ông Hoàng Hữu Đ và bà Trần Thị Phương L. Ông Đ, bà L được cấp GCNQSDĐ có các chiều cạnh như sau: Phía Đông giáp thửa 396 là 15,20m; Phía Tây giáp đường dân sinh là 15,20m; Phía Nam giáp thửa 381 là 11,05m; Phía Bắc giáp thửa 642 là 14,18m.
Căn cứ hồ sơ do Văn phòng Đ1 chi nhánh thành phố V cung cấp thì tháng 8 năm 2019 ông Đ, bà L chuyển nhượng thửa đất 643, tờ bản đồ số 41, diện tích 190 m² cho ông Vũ Đức P và bà Hoàng Anh T. Ông P, bà T sau khi được cấp giấy chứng nhận QSDĐ đã tách thửa đất 643 làm 3 thửa là thửa số 656, 657,658 tờ bản đồ số 41. Năm 2020 ông P, bà T chuyển nhượng thửa đất 656, diện tích 65,8 m² cho ông Lê Hữu S2 và bà Lê Thị M, ông S2, bà M được Sở Tài nguyên môi trường tỉnh V cấp giấy chứng nhận QSDĐ với diện tích là 65,8 m².
Căn cứ vào biên bản giải quyết tranh chấp đất đai ngày 30/11/2022 của UBND xã Đ (nay là UBND Phường Đ), tại buổi làm việc bị đơn ông C cho rằng ông chuyển nhượng thửa đất cho ông Đ, bà L là 190 m² có chiều rộng phía giáp đường là 15m.
[2.2] Căn cứ Kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ các thửa đất tranh chấp như sau:
- * Thửa đất ông Hoàng Văn C và bà Nguyễn Thị H1 chuyển nhượng cho ông Hoàng Hữu Đ và bà Trần Thị Phương L (sau đó chuyển nhượng cho ông P, bà T) hiện nay là 3 thửa 656, 657, 658 có các chiều cạnh:
- - Phía Tây giáp đường dân sinh là 14,99m so với chiều cạnh của thửa đất khi chuyển nhượng cho ông Đ, bà L thiếu 0,21m;
- - Phía đông giáp thửa 396 là 14,86m, so với chiều cạnh của thửa đất khi chuyển nhượng cho ông Đ, bà L thiếu 0,34m;
- - Phía Nam giáp thửa 381 là 11m, so với chiều cạnh của thửa đất khi chuyển nhượng cho ông Đ, bà L thiếu 0,05 m;
- - Phía Bắc giáp thửa 642 là 14,14m, so với chiều cạnh của thửa đất khi chuyển nhượng cho ông Đ, bà L thiếu 0,04m.
- * Thửa đất 656, tờ bản đồ số 41 của ông Lê Văn S1 và bà Lê Thị M diện tích đo đạc thực tế là 63 m², so với giấy chứng nhận QSDĐ của ông S1, bà M thì thiếu 2,8 m²; phần diện tích đất 2,8 m² chồng lấn vào phần móng xây gạch; phần vách tôn dựng trên phần móng và một phần trụ cổng (cũ) của ông C, bà H1 theo mốc giới 1,2,3,4,1. Thửa đất của ông S1, bà M có chiều cạnh như sau:
- - Phía giáp đường là 4,60m, so với GCNQSDĐ thiếu 0,20m;
- - Phía giáp thửa 642 là 14,14m, so với GCNQSDĐ thiếu 0,04m;
- - Phía giáp thửa 657 là 13,17m, bằng so với GCNQSDĐ ;
- - Phía giáp thửa 396 là 4,70m, so với GCNQSDĐ thiếu 0,20m.
- * Thửa đất 642, tờ bản đồ số 41 của ông Hoàng Văn C theo diện tích đo đạc thực tế là 268,6 m², so với GCNQSDĐ ông C được cấp tăng 40,8 m².
[2.3] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập tại UBND phường Đ, tài liệu do Văn phòng đăng ký đất đai cung cấp; kết quả đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ đối với thửa đất tranh chấp thấy rằng: Ông Hoàng Văn C và bà Nguyễn Thị H1 chuyển nhượng thửa đất 643, tờ bản đồ số 41, diện tích 190 cho Đ và bà L (có chiều rộng giáp đường ngõ là 15,20m; chiều rộng giáp với thửa 396 là 15,20m). Theo kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ông Đ, bà L nhận chuyển nhượng của ông C, bà H1 nay là các thửa số 656, 657, 658 thì chiều rộng phía giáp đường thiếu 0,21m; chiều rộng giáp thửa 396 thiếu 0,34m. Kết quả đo đạc thửa đất của ông C bà H1 theo hiện trạng là 268,6m², so sánh hiện trạng thửa đất của ông C, bà H1 với GCNQSDĐ ông Hoàng Văn C được cấp tăng 40,8 m². Kết quả đo đạc thửa đất của ông S1, bà M là 63 m², so sánh hiện trạng thửa đất của ông S1, bà M với bản đồ địa chính, GCNQSDĐ cấp cho ông S1, bà M thì gia đình ông C, bà H1 xây dựng phần móng tường và vách tôn và một phần trụ cổng (cũ) lấn vào diện tích được cấp GCNQSDĐ đất của ông S1 bà M có chiều rộng 0,20m; chiều dài là 14,18m, diện tích là 2,8 m². Do đó việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông C, bà H1 phải tháo dỡ công trình xây dựng là phần móng tường có chiều rộng là 0,2m, chiều dài là 14,18m, chiều cao là 0,2m và 01 vách tôn dựng trên phần móng có chiều dài 8,34 m, chiều cao 4,5 m và một phần trụ cổng để trả lại cho gia đình ông Nguyễn Hữu S và bà Lê Thị M 2,8 m² đất có địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.4] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết nguyên đơn nộp tiền tạm ứng chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật. Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí đo đạc xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 5.400.000đ để trả cho ông Nguyễn Hữu S.
[2.5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch đối với diện tích đất phải trả cho nguyên đơn là 2,8 m² x 15.000.000đ/ m² x 5% = 2.100.000đ. Nguyên đơn không phải chịu án phí và được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sẽ được Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 175,176 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, 170 của Luật đất đai năm 2013; Điều 147, 157, Điều 165, Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết 326/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Buộc ông Hoàng Văn C và bà Nguyễn Thị H1 phải tháo dỡ công trình xây dựng gồm: Tháo dỡ phần móng xây gạch có chiều rộng là 0,2m, chiều dài là 14,18m, chiều cao là 0,2m theo các mốc giới 1,2,3,4,1; 01 vách tôn dựng trên phần móng và một phần trụ cổng (cũ) và các công trình xây dựng để trả cho ông Nguyễn Hữu S và bà Lê Thị M 2,8 m² đất có địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có sơ đồ kèm theo).
- Về chi phí tố tụng: Ông Hoàng Văn C và bà Nguyễn Thị H1 phải chịu chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 5.400.000đ (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng) để trả cho ông Nguyễn Hữu S.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán khoản tiền nêu trên thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất chậm trả của số tiền phải thi hành án là 10%/năm.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hoàng Văn C và bà Nguyễn Thị H1 phải chịu án phí là 2.100.000₫ (Hai triệu một trăm nghìn đồng). Trả lại ông Nguyễn Hữu S số tiền 1.061.000đ (Một triệu không trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005666 ngày 30/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về chi phí tố tụng: Ông Hoàng Văn C và bà Nguyễn Thị H1 phải chịu chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 5.400.000đ (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng) để trả cho ông Nguyễn Hữu S.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Đường |
6
Bản án số 27/2025/DS-ST ngày 23/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Số bản án: 27/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn và tranh chấp nuôi con chung
