TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2025/DS-ST
Ngày: 06-6-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Nhựt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lưu Văn Hoàng;
- Ông Nguyễn Thanh Tuấn.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Cảnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Thịnh – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 709/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2025/QÐST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2025; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số: 12/TB-TA ngày 22 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần H (M) (viết tắt Ngân hàng); địa chỉ trụ sở: Số E, đường N, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng L - Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Đức Q - Chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng Q1 (giấy ủy quyền số 12402/2023/UQ-TGĐ12 ngày 29/01/2023).
Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Lê Anh T, sinh năm 1988; địa chỉ: Số A, đường T, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Lê Hồng T1, sinh năm 1983 và bà Lâm Thị P, sinh năm 1982; cùng địa chỉ: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24/9/2024 và quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn là ông Nguyễn Lê Anh T trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần H (M) có cho ông T1 và bà P vay theo Hợp đồng cho vay số 490676/TCH/2020/HĐCV- 038 ngày 27/8/2020 và Khế ước nhận nợ số 490676/TCH/2020/KUNNN-038 ngày 27/8/2020 số tiền vay: 1.000.000.000 đồng, lãi suất cho vay: 9,5%/năm, lãi suất quá hạn: 150%/năm lãi suất trong hạn, lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm, thời hạn vay: 120 tháng (từ ngày 27/8/2020 đến ngày 27/8/2030), mục đích vay: vay tiêu dùng mua sắm đồ dùng trong gia đình; Hợp đồng cho vay số 490676/TCH/2020/HĐCV-008 ngày 27/8/2020 số tiền vay: 150.000.000 đồng, lãi suất cho vay: 9,5%/năm, lãi suất quá hạn: 150%/năm lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm, thời hạn vay: 84 tháng (27/8/2020 đến ngày 27/8/2027), mục đích vay: bổ sung vốn kinh doanh dịch vụ trò chơi trẻ em, ăn uống; Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế số 1308TCH/2020/TCH ngày 13/8/2020 với hạn mức: 50.000.000 đồng, lãi suất cho vay không cố định và có điều chỉnh, lãi suất quá hạn 145%/năm lãi suất trong hạn.
Để đảm bảo khoản vay trên, ông T1 và bà P có thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 01524QSDĐ/Ea được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang cấp ngày 04/9/2003 do bà Nguyễn Thị C đứng tên, diện tích đất 355.80 m², thửa đất số 71 tờ bản đồ số 26, loại đất ở tại đô thị; đất tọa lạc tại phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (thay đổi trang 4 ngày 10/01/2020 mang tên Lê Hồng T1). Và tài sản gắn liền với đất có diện tích sử dụng: 135m², diện tích xây dựng: 94,5m², loại nhà ở: nhà ở riêng lẻ, kết cấu: móng BTCT, khung cột BTCT, mái tole, vách gạch, nền gạch, cầu thang BTCT có lát gạch, tay vịn bằng gỗ. Sau khi vay, trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông T1 và bà P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi đối với Ngân hàng, vi phạm các cam kết thoả thuận mà hai bên đã ký kết.
Ngân hàng yêu cầu ông T1 và bà P trả nợ cho Ngân hàng tính đến ngày 06/6/2025, tổng số tiền là 1.452.908.308 đồng (Một tỷ bốn trăm năm mươi hai nghìn chín trăm lẻ tám nghìn ba trăm lẻ tám đồng). Trong đó:
Hợp đồng cho vay số 490676/TCH/2020/HĐCV-038 ngày 27/8/2020, vốn gốc: 803.819.454 đồng; nợ lãi trong hạn: 333.678.005 đồng; nợ lãi quá hạn: 24.871.039 đồng.
Hợp đồng cho vay số 490676/TCH/2020/HĐCV-008 ngày 27/8/2020, vốn gốc: 113.318.460 đồng, nợ lãi trong hạn: 44.151.151 đồng, nợ lãi quá hạn: 6.064.342 đồng.
Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế số 1308.TCH/2020/TCH ngày 13/8/2020, dư nợ gốc: 48.314.473 đồng, nợ lãi trong hạn trong hạn: 56.282.628 đồng, nợ lãi quá hạn: 22.408.756 đồng.
Đồng thời, yêu cầu ông T1 và bà P tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh từ ngày 07/6/2025 đến khi trả dứt nợ, theo mức lãi suất đã thoả thuận tại các văn bản đã ký kết với Ngân hàng. Trường hợp ông T1 và bà P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 490676/TCH/2020/HĐTC ngày 27/8/2020 để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Ngoài ra, tài sản bảo đảm của ông T1 và bà P không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì ông T1 và bà P vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
- Bị đơn ông Lê Hồng T1 trình bày:
Nội dung hợp đồng tín dụng vay tiền của vợ chồng ông Lê Hồng T1 và bà Lâm Thị P đúng như đại diện nguyên đơn đã trình.
Về số tiền còn nợ Ngân hàng thì tính đến ngày 19/3/2025, chúng tôi xác nhận thừa nhận tổng số tiền còn nợ là 1.418.124.269 đồng (Một tỷ bốn trăm mười tám triệu một trăm hai mươi bốn nghìn hai trăm sáu mươi chín đồng). Trong đó, theo Hợp đồng cho vay số 490676/TCH/2020/HĐCV-038 ngày 27/8/2020, vốn gốc: 803.819.454 đồng; nợ lãi trong hạn: 312.452.768; lãi quá hạn: 21.343.049 đồng; Hợp đồng cho vay số 490676/TCH/2020/HĐCV- 008 ngày 27/8/2020, vốn gốc: 113.318.460 đồng, nợ lãi trong hạn: 41.281.555 đồng, lãi quá hạn: 5.271.502 đồng; Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế số 1308.TCH/2020/TCH ngày 13/8/2020, dư nợ gốc: 48.314.473 đồng, nợ lãi trong hạn, quá hạn: 72.323.008 đồng.
Hiện nay gia đình khó khăn đang tìm cách thanh toán khoản nợ trên cho Ngân hàng nhưng chưa có tiền nên chưa thanh toán được khoản nợ vay.
- Bị đơn bà Lâm Thị P trình bày:
Thống nhất ý kiến trình bày của ông Lê Hồng T1, tôi đồng ý liên đới trả nợ cho Ngân hàng.
Tại phiên toà, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Buộc ông T1 và bà P có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho Ngân hàng tính đến ngày 06/6/2025, tổng số tiền là 1.452.908.308 đồng (Một tỷ bốn trăm năm mươi hai nghìn chín trăm lẻ tám nghìn ba trăm lẻ tám đồng) cho các khoản vay trên.
Đồng thời, yêu cầu ông T1 và bà P tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh từ ngày 07/6/2025 đến khi trả dứt nợ, theo mức lãi suất đã thoả thuận tại các văn bản đã ký kết với Ngân hàng. Trường hợp ông T1 và bà P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 490676/TCH/2020/HĐTC ngày 27/8/2020 để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Ngoài ra, tài sản bảo đảm của ông T1 và bà P không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì ông T1 và bà P vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Ông Lê Hồng T1, bà Lâm Thị P vắng mặt, có đơn xin vắng mặt, giữ nguyên ý kiến, trình bày tại các biên bản hoà giải.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực đúng hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lê Hồng T1 và bà Lâm Thị P có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần H số tiền tạm tính đến ngày 06/6/2025 là 1.452.908.308 đồng (Một tỷ bốn trăm năm mươi hai nghìn chín trăm lẻ tám nghìn ba trăm lẻ tám đồng). Trong đó:
Hợp đồng cho vay số 490676/TCH/2020/HĐCV-038 ngày 27/8/2020, vốn gốc: 803.819.454 đồng; nợ lãi trong hạn: 333.678.005 đồng; nợ lãi quá hạn: 24.871.039 đồng.
Hợp đồng cho vay số 490676/TCH/2020/HĐCV-008 ngày 27/8/2020, vốn gốc: 113.318.460 đồng, nợ lãi trong hạn: 44.151.151 đồng, nợ lãi quá hạn: 6.064.342 đồng.
Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế số 1308.TCH/2020/TCH ngày 13/8/2020, dư nợ gốc: 48.314.473 đồng, nợ lãi trong hạn: 56.282.628 đồng, nợ lãi quá hạn: 22.408.756 đồng.
Kể từ ngày 07/6/2025, ông Lê Hồng T1 và bà Lâm Thị P còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thoả thuận tại các văn bản đã ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần H. Trường hợp ông T1 và bà P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 490676/TCH/2020/HĐTC ngày 27/8/2020 để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Ngoài ra, tài sản bảo đảm của ông T1 và bà P không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì ông T1 và bà P vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Việt Nam.
Về án phí: Ông Lê Hồng T1, bà Lâm Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Ông Lê Hồng T1, bà Lâm Thị P phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn là ông Lê Hồng T1 và bà Lâm Thị P có đăng ký nơi cư trú tại khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Lê Hồng T1, bà Lâm Thị P vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hình thức hợp đồng: Giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần H (M) và ông Lê Hồng T1, bà Lâm Thị P đã thực hiện giao kết các hợp đồng sau:
Hợp đồng cho vay số 490676/TCH/2020/HĐCV-038 ngày 27/8/2020;
Hợp đồng cho vay số 490676/TCH/2020/HĐCV-008 ngày 27/8/2020; Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế số 1308.TCH/2020/TCH ngày 13/8/2020.
Xét thấy, các hợp đồng ký kết giữa hai bên đảm bảo về mặt hình thức, chủ thể ký kết có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nội dung hợp đồng thể hiện sự tự nguyện của các bên, không vi phạm điều cấm của pháp luật nên được xem là hợp pháp, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên được pháp luật bảo vệ.
[2.2] Về nội dung hợp đồng: Xét thấy, khoản vay tại các Hợp đồng cho vay số 490676/TCH/2020/HĐCV-038 ngày 27/8/2020; Hợp đồng cho vay số 490676/TCH/2020/HĐCV-008 ngày 27/8/2020; Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế số 1308.TCH/2020/TCH ngày 13/8/2020 đã được Ngân hàng giải ngân, ông Lê Hồng T1 và bà Lâm Thị P đã nhận được tiền vay, sử dụng thẻ tín dụng theo hạn mức được cấp. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lê Hồng T1 và bà Lâm Thị P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo cam kết, thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay đã ký kết. Tính đến ngày 06/6/2025, ông Lê Hồng T1 và bà Lâm Thị P còn nợ Ngân hàng là 1.452.908.308 đồng (Một tỷ bốn trăm năm mươi hai nghìn chín trăm lẻ tám nghìn ba trăm lẻ tám đồng). Trong đó:
Hợp đồng cho vay số 490676/TCH/2020/HĐCV-038 ngày 27/8/2020, vốn gốc: 803.819.454 đồng; nợ lãi trong hạn: 333.678.005 đồng; nợ lãi quá hạn: 24.871.039 đồng.
Hợp đồng cho vay số 490676/TCH/2020/HĐCV-008 ngày 27/8/2020, vốn gốc: 113.318.460 đồng, nợ lãi trong hạn: 44.151.151 đồng, nợ lãi quá hạn: 6.064.342 đồng.
Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế số 1308.TCH/2020/TCH ngày 13/8/2020, dư nợ gốc: 48.314.473 đồng, nợ lãi trong hạn: 56.282.628 đồng, nợ lãi quá hạn: 22.408.756 đồng.
Ông Lê Hồng T1, bà Lâm Thị P thừa nhận có vay và thống nhất còn nợ số tiền như trình bày của phía Ngân hàng M, đồng ý trả nợ nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn nên hiện nay chưa có khả năng thanh toán cho Ngân hàng M.
Từ những căn cứ trên, Ngân hàng yêu cầu Toà án buộc ông Lê Hồng T1 và bà Lâm Thị P phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần H số tiền tạm tính đến ngày 06/6/2025 là 1.452.908.308 đồng (Một tỷ bốn trăm năm mươi hai nghìn chín trăm lẻ tám nghìn ba trăm lẻ tám đồng) là có căn cứ nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đồng thời, kể từ ngày 07/6/2025, ông Lê Hồng T1 và bà Lâm Thị P còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thoả thuận tại các văn bản đã ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần H. Trường hợp ông T1 và bà P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 490676/TCH/2020/HĐTC ngày 27/8/2020 để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Ngoài ra, tài sản bảo đảm của ông T1 và bà P không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì ông T1 và bà P vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần H cho đến khi thanh toán hết nợ.
[3] Về án phí: Ông Lê Hồng T1, bà Lâm Thị P cùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Ông Lê Hồng T1, bà Lâm Thị P phải chịu 500.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần H được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Các Điều 100, 103 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; các Điều 147, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 7, Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần H.
Buộc ông Lê Hồng T1 và bà Lâm Thị P có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần H số tiền tính đến ngày 06/6/2025 là 1.452.908.308 đồng (Một tỷ bốn trăm năm mươi hai nghìn chín trăm lẻ tám nghìn ba trăm lẻ tám đồng).
Kể từ ngày 07/6/2025, ông Lê Hồng T1 và bà Lâm Thị P ông Lê Hồng T1 và bà Lâm Thị P còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thoả thuận tại các văn bản đã ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần H. Trường hợp ông T1 và bà P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần H yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 490676/TCH/2020/HĐTC ngày 27/8/2020 để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Trường hợp, tài sản bảo đảm của ông T1 và bà P không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì ông T1 và bà P vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần H cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.
[2] Về án phí: Ông Lê Hồng T1 và bà Lâm Thị P cùng phải chịu 55.587.249 đồng (Năm mươi lăm triệu năm trăm tám mươi bảy nghìn hai trăm bốn mươi chín đồng).
Ngân hàng Thương mại Cổ phần H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 25.917.000 đồng (Hai mươi lăm triệu chín trăm mười bảy nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008954 ngày 26/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu.
Về chi phí tố tụng: Buộc ông Lê Hồng T1 và bà Lâm Thị P hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần H số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).
[3] Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần H có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; thời hạn kháng cáo của ông Lê Hồng T1 và bà Lâm Thị P là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Minh Nhựt |
Bản án số 27/2025/DS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 27/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP H - Lê Hồng T, Lâm Thị P
