Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/DS-ST

Ngày: 06-6-2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Bồ Quốc Khánh;

2/ Ông Võ Phi Anh Toàn.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Minh Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Trương Anh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý 36/2025/TLST-DS ngày 19/02/2025 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST–DS ngày 18 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09/5/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã M, huyện T, tỉnh An Giang; Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (Văn bản ngày 09/12/2024). Có đơn xin vắng mặt

Bị đơn: Ông Phạm Minh T1, sinh năm 1977; địa chỉ: thường trú: Tổ B, ấp H, xã V, huyện C, tỉnh An Giang; tạm trú: Nhà trọ B, Tổ C, ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 14/11/2023, thông qua giới thiệu, ông Trần Văn Trung liên H và gặp ông Phạm Minh T1 là chủ ruộng đang trồng lúa được 10 ngày tuổi, ông T và ông T1 đã giao kết Hợp đồng mua bán lúa tươi có nội dung như sau: “Ông T1 đồng ý bán cho ông T 340 công lúa tươi được 10 ngày tuổi sau sạ, giống lúa OM380, 5451 thấp hơn giá thị trường 100đ/kg lúa thành phẩm”. Theo nội dung hợp đồng thì ông T đặt cọc cho ông T1 và ông T1 đã nhận đủ số tiền cọc và cộng chênh lệch so với giá thị trường tổng cộng 200.600.000 đồng. Vào khoảng 95 ngày sau khi ký hợp đồng thì các bên sẽ thực hiện giao dịch mua bán lúa theo hợp đồng. Đến ngày thoả thuận, ông T đến gặp ông T1 để thực hiện hợp đồng mua bán lúa thì ông T1 báo đã bán toàn bộ 340 công lúa cho người khác, hẹn khoảng 15 ngày sau sẽ trả lại số tiền đã nhận cọc và tiền chênh lệch 100đ/kg của 340 công lúa là 30.000.000 đồng. Sau đó ông liên hệ đòi tiền thì ông T1 đã trả được 90.000.000 đồng và viết cam kết sẽ trả lại 110.600.000 đồng vào ngày 30/7/2024 nhưng đến nay ông T1 không trả. Do đó, ông T khởi kiện yêu cầu ông T1 phải hoàn trả số tiền cọc là 110.600.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Nguyên đơn cung cấp chứng cứ gồm: 02 Hợp đồng mua lúa ngày 14/11/2023, Hợp đồng mua lúa ngày 16/11/2023, Tờ cam kết của ông Phạm Minh T1 ngày 24/5/2024.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Minh T1 không đến Toà tham gia tố tụng, không trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định, bị đơn không tham gia tố tụng là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định.

Về nội dung: Qua các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có trong hồ sơ vụ án, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có ý kiến phản đối trước yêu cầu của nguyên đơn. Xét thấy nguyên đơn khởi kiện có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Các đương sự có ký hợp đồng đặt cọc về việc mua bán lúa với nhau. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện B, tỉnh Bình Dương. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không rõ lý do, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt đương sự.

[2] Về nội dung: Theo trình bày của nguyên đơn, nội dung Hợp đồng mua lúa ngày 14/11/2023, Hợp đồng mua lúa ngày 16/11/2023 thể hiện nguyên đơn có đặt cọc 03 lần cho bị đơn tổng số tiền là 170.000.000 đồng để thực hiện việc mua bán lúa tươi khi đến kỳ thu hoạch và các bên có thoả thuận “Nếu bên mua không thực hiện đúng theo hợp đồng thì bỏ cọc, còn bên bán nếu không thực hiện đúng theo hợp đồng thì một sẽ bồi thường hai”. Tờ cam kết ngày 24/5/2024 của ông Phạm Minh T1 có nội dung “Nguyên trước đây tôi có trực tiếp nhận số tiền của anh Trần Văn T số tiền là 200.600.000 đồng. Tôi đã trả được cho anh T số tiền 90.000.000 đồng, còn nợ lại anh T tổng số tiền là 110.600.000 đồng. Tôi cam kết vào ngày 30/6/2024 nhằm ngày 30/7/2024 dương lịch, tôi sẽ trả 110.600.000 đồng cho anh T. Nếu tôi không thực hiện đúng theo cam kết như trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Như vậy sau khi ký kết hợp đồng đặt cọc, các bên không tiến hành việc mua bán lúa như thoả thuận, đồng thời đã thoả thuận việc trả cọc và phạt cọc, theo nội dung cam kết trên thì bị đơn còn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 110.600.000 đồng.

[3] Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn, triệu tập bị đơn tham gia tố tụng nhưng bị đơn không có ý kiến, không phản đối trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng không có mặt tại phiên toà để tranh luận. Việc bị đơn vắng mặt là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng, từ bỏ quyền chứng minh để bảo vệc quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự có quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh như sau “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, ... mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.

[4] Từ những phân tích, nhận định nêu trên xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.

[5] Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 200, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 328, Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
  • - Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” với bị đơn ông Phạm Minh T1:

Buộc ông Phạm Minh T1 phải thanh toán cho ông Trần Văn T số tiền 110.600.000 đồng (Một trăm mười triệu sáu trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Phạm Minh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 5.530.000 đồng (Năm triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng).

- Hoàn trả cho ông Trần Văn T số tiền tạm ứng án phí 2.765.000 đồng (Hai triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai số 0007883 ngày 22/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Bắc Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Tân Uyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Hưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/DS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 27/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger