|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 27/2025/DS-PT Ngày: 23 - 5 -2025 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng lúa |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Hồ Đức Quang |
| Các Thẩm phán: | Bà Trần Thị Thu Hiền |
| Ông Bùi Minh Thư |
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Khánh Chi - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự Thụ lý số 09/2025/TBTL-TA ngày 14/3/2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng lúa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐ-PT ngày 10 tháng 4 năm 2025 và Thông báo mở lại phiên tòa số 22/TB-TA ngày 12 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Thanh H, sinh năm 1961. Địa chỉ: Thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân L, sinh năm 1987. Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
- * Bị đơn: Ông Lê Bá C, sinh năm 1964 và bà Đào Thị Hồng V, sinh năm 1963. Cùng trú tại: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Bà V có mặt, ông C vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Bá C: Bà Đào Thị Hồng V, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt
- * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Tài T, chức vụ: Trưởng phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện K. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Võ Thành C1, chức vụ: Công chức địa chính UBND xã K. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh H và đại diện theo ủy quyền nguyên đơn thống nhất trình bày:
Lúc còn sống, cụ Bùi T2 (sinh năm 1927, chết năm 2023) và cụ Trần Thị T1 (sinh năm 1926, chết năm 2020 – là bố mẹ đẻ của nguyên đơn) năm 1993, cụ Bùi T2 được nhà nước giao diện tích đất nông nghiệp (đất chuyên trồng lúa nước) với 05 thửa đất với tổng diện tích đất là 2.226m² được Ủy ban nhân dân huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành SSG 244048, số vào sổ cấp GCN 48/QSDĐ vào năm 1993 mang tên Bùi Thiện . Năm 2011, sau chuyển đổi ruộng đất, gia đình cụ Bùi T2 được chia lại còn 02 thửa đất nông nghiệp (đất chuyên trồng lúa nước) là thửa 551 và thửa 553, tờ bản đồ số 11, tại vùng đồng Đăng Cao, thôn T, xã K, huyện K với diện tích là 2019,7m² và được UBND huyện K cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CD 146821; số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 01522 ngày 17/10/2016 mang tên Bùi Văn T2 và Trần Thị T1.
Trước đây, cụ Bùi T2 và Trần Thị T1 canh tác trồng lúa liên tục và ổn định tại hai thửa đất trên nhưng đến đầu năm 2002, do tuổi cao, sức khoẻ yếu nên hai cụ được con trai đưa vào sinh sống tại nhà con trai ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, trước khi đi, cụ Bùi T2 và Trần Thị T1 đã cho vợ chồng ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V ở thôn T, xã K, huyện K mượn hai thửa đất trên để canh tác trồng lúa từ năm 2012 đến năm 2016 (vì ông Lê Bà C2 và bà Đào Thị Hồng V là con cháu trong họ hàng với ông Bùi T2) nên việc cho mượn đất để canh tác chỉ nói với nhau bằng miệng chứ không lập thành văn bản. Đến năm 2017, cụ Bùi T2 và cụ Trần Thị T1 về lại quê và liên hệ với vợ chồng ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V để lấy lại 02 thửa đất ruộng đã cho mượn sử dụng thì vợ chồng ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V không chịu trả lại hai thửa đất nói trên, nhưng vợ chồng ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V vẫn không đồng ý trả lại đất cho cụ Bùi T2, mà ngược lại còn trả lời là hai thửa đất trên là của ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V đã được Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Sau đó, cụ Bùi T2 đã nhiều lần gửi đơn kiến nghị và UBND xã K, đã tổ chức hoà giải rất nhiều lần nhưng không thành (vợ chồng ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V vẫn không chịu trả lại đất cho cụ Bùi T2), mặc dù thửa đất trên được bà con hàng xóm và các đồng chí trong UBND xã K khẳng định và xác nhận đó là thửa đất trên của cụ Bùi T2 và Trần Thị T1 nhưng vợ chồng ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V vẫn khẳng định là đất của vợ chồng ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V.
Năm 2023, sau khi cụ Bùi Thiện C3 thì các đồng thừa kế của cụ Bùi T2 đã đồng ý tặng cho hai thửa đất nói trên cho nguyên đơn.
Vì vậy, nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh giải quyết những vấn đề sau:
- Buộc vợ chồng ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V trả lại 02 thửa đất nông nghiệp (cụ thể thửa đất số 553 và thửa đất số 555 tờ bản đồ số 11), tại V, thôn T, xã K, huyện K với diện tích là 2019,7m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CD 146821; số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 01522 ngày 17/10/2016 cho bà Bùi Thị Thanh H là người thừa kế hợp pháp của ông Bùi Văn T2 và Trần Thị T1.
- Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện K thu hồi, sửa đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành BU 972019, số vào sổ CH 01234, do Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 13/02/2015 mang tên Lê Bá C và Đào Thị Hồng V do cấp trùng.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn Đào Thị Hồng V trình bày:
Năm 2002, ông Bùi T2, bà Trần Thị T1 vào Nam ở cùng con trai và thống nhất cho vợ chồng ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V mượn 02 thửa đất thời điểm đó là đất 400 vuông cửa 1 và 800 vuông của 3 (đất đó sau này chia lại thì hai người khác quản lý và sử dụng). Năm 2011, chúng tôi được chia lại ruộng đất, xóm xã làm đại trà cấp chuyển đổi phân lại đất ruộng cho dân và vợ chồng ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V đã được chia hai thửa đất trên nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến năm 2015 hai thửa đất đó đã có chủ trương cấp bìa và vợ chồng ông C bà V được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vợ chồng đã được quản lý, sử dụng đồng thời nạp thuế, sản phẩm từ đó cho đến nay là hợp pháp, còn việc không có hồ sơ lưu trữ tại Ủy ban nhân dân huyện thì đó là việc của lưu trữ hay lập hồ sơ của huyện và ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V không đồng ý yêu cầu của bà Bùi Thị Thanh H và không đồng ý trả lại hai thửa đất nông nghiệp trồng lúa cho bà Bùi Thị Thanh H.
Tại công văn số 1243/UBND-TNMT ngày 14/6/2024; 2070/UBND-TNMT ngày 23/9/2024, Ủy ban nhân dân huyện K trình bày ý kiến như sau:
Về nguồn gốc sử dụng đất: Qua quá trình kiểm tra, xác minh và Báo cáo của UBND xã K thì thửa đất số 553 và 555 tờ bản đồ địa chính xã K số 11 là hai thửa đất được chia theo chuyển đổi ruộng đất năm 2011 của xã K cho ông Bùi Văn T2 thôn T, xã K với diện tích 2.019,7m² (theo sổ chia ruộng đất năm 2011 của thôn), căn cứ theo diện tích đất nông nghiệp mà ông Bùi Văn T2 được chia theo Nghị định 64/CP. Ngoài ra các khoản thanh toán về thủy lợi phí và các khoản thu tiền sử dụng đất, tiền thuế quỹ hằng năm tại thôn T, xã K về diện tích hai thửa đất này đều do ông Bùi Văn T2 thực hiện từ trước đến nay.
Về quá trình trực tiếp sản xuất nông nghiệp trên 2 thửa đất nêu trên hiện đang được ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V sản xuất được cho là hộ gia đình ông Bùi Văn T2 cho ông Lê Bá Chu M sử dụng. Như vậy theo quy định của pháp luật việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông Bùi Văn T2 là đúng quy định.
Về quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Trong quá trình xây dựng hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp của hai hộ gia đình của ông Bùi Văn T2 và Lê Bá C, cán bộ chuyên môn và UBND xã K đã xây dựng hồ sơ sai sót dẫn đến cấp trùng hai thửa đất đồng thời cho hai hộ gia đình sử dụng là ông Bùi Văn T2 và ông Lê Bá C, nhưng xét về quá trình cấp đổi đất nông nghiệp theo Nghị định 64/CP và theo sổ giao đất năm 2011 của thôn T, xã K thì thửa đất được giao cho ông Bùi Văn T2 và vợ là bà Trần Thị T1.
Về việc cung cấp hồ sơ lưu trữ về việc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Ủy ban nhân dân huyện K đã tiến hành khai thác hồ sơ tại Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh K nhưng chỉ có hồ sơ cấp GCN QSD đất số phát hành CD 14682; số vào sổ CH 01522 ngày 17/6/2016 do UBND huyện K cấp mang tên Bùi Văn T2 và Trần Thị T1 (có hồ sơ sao chụp kèm theo) có trong hồ sơ lưu trữ. Còn hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU971019, số vào sổ CH 01234 do UBND huyện K cấp ngày 13/2/2015 mang tên Lê Bá C và Đào Thị Hồng V không có hồ sơ lưu trữ.
Tại Văn bản số 1243/UBND-TNMT ngày 14/6/2024 của UBND huyện K thì Thửa đất được cấp cho hộ gia đình ông T2 là đúng quy định, vậy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 971019, số vào sổ CH 01234 do UBND huyện K cấp ngày 13/2/2015 là cấp sai diện tích đất nông nghiệp của hộ gia đình ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V. Căn cứ quy định tại Điểm d, Khoản 2 Điều 152 về việc thu hồi Giấy chứng nhận: “Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai tại thời điểm cấp giấy chứng nhận” và tại Điểm a, Khoản 3 điều 152 quy định “Trường hợp Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai có bản án, quyết định có hiệu lực thi hành, trong đó có kết luận về việc thu hồi giấy chứng nhận đã cấp thì việc thu hồi giấy chứng nhận đã cấp được thực hiện theo bản án, quyết định đó”
Như vậy theo quy định thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 971019, số vào sổ CH 01234 do UBND huyện K cấp ngày 13/2/2015 được cấp cho ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V không đúng diện tích vì vậy phải thu hồi và cấp lại đúng với diện tích và nguồn gốc sử dụng đất của ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V. Ngoài ra, trường hợp này Tòa án nhân dân đang giải quyết tranh chấp nên theo quy định tại Điểm a, Khoản 3 điều 152 đã nêu trên thì sau khi có Quyết định của Tòa án, U thu hồi GCN QSD theo quy định tại Điểm d, Khoản 3, Điều 152 Luật đất đai 2024
Ủy ban nhân dân xã K, huyện K trình bày:
Về nguồn gốc sử dụng đất: Đối với hộ ông Bùi Văn T2: Năm 1993, ông Bùi T2 và bà Trần Thị T1 được nhà nước giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64-CP là 05 thửa đất, đến năm 2011, sau khi thực hiện chuyển đổi ruộng đất theo Chỉ thị số 11/2008/CT-UBND ngày 20/3/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh H thì ông Bùi T2 và bà Trần Thị T1 được chia lại còn 02 thửa (cụ thể là thửa đất số 553 và thửa đất số 555, tờ bản đồ số 11) với diện tích là 2.019,7m² (theo sổ chia ruộng đất năm 2011 của thôn T, xã K). Sau khi chia ruộng đất thì ông Bùi T2 thực hiện đúng và đầy đủ các khoản thanh toán về thủy lợi phí và các khoản thu tiền sử dụng đất, tiền thuế quỹ hằng năm tại thôn T, xã K.
Đối với hộ ông Lê Bà C2 và bà Đào Thị Hồng V: Năm 1995, hộ ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V được nhà nước giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64 là 13 thửa đất nông nghiệp. Đến năm 2011, sau khi chuyển đổi ruộng đất Chỉ thị số 11/2008/CT-UBND ngày 20/3/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh H thì hộ ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V được chia lại là 05 thửa là (thửa đất số 26; 233; 283; 792; 895, tờ bản đồ số 11) với tổng diện tích là 4.654,1m²
Về quá trình trực tiếp sản xuất nông nghiệp trên 2 thửa đất (thửa đất số 553 và thửa đất số 555, tờ bản đồ số 11) hiện nay đang do vợ chồng ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V sử dụng. Tuy nhiên về mặt quy định thì hai thửa đất này là của ông Bùi Văn T2 và bà Trần Thị T1.
Về quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Trong quá trình xây dựng hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp của hai hộ gia đình của ông Bùi Văn T2 và Lê Bá C, do thời điểm đó cấp đổi đồng loạt giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cán bộ chuyên môn đã thiếu kiểm tra hồ sơ dẫn dẫn đến cấp trùng hai thửa đất đồng thời cho hai hộ gia đình sử dụng là ông Bùi Văn T2 và ông Lê Bá C, nhưng xét về quá trình cấp đổi đất nông nghiệp theo Nghị định 64-CP và theo sổ giao đất năm 2011 của thôn T, xã K thì thửa đất được giao cho ông Bùi Văn T2 và vợ là bà Trần Thị T1.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Toà án giải quyết theo đúng quy định của Pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh:
Căn cứ: Điều 73, Điều 75 Luật Đất đai năm 1993; khoản 1 Điều 67, Điều 105 Luật Đất đai năm 2003; Điều 106, Điều 166, Điều 170, điểm a khoản 1 Điều 179, khoản 3 Điều 210 Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 709 Bộ luật Dân sự năm 1995; Điều 424, Điều 255, Điều 256 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 116, Điều 117, khoản 2 Điều 165, khoản 1 Điều 166, Điều 494, Điều 495 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quan hệ tranh chấp: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Thanh H.
Buộc vợ chồng ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V trả lại cho bà Bùi Thị Thanh H (là người thừa kế hợp pháp của hộ ông Bùi Văn T2 và bà Trần Thị T1) 02 thửa đất nông nghiệp là thửa đất số 553 và thửa đất số 555, tờ bản đồ số 11, địa chỉ thửa đất tại V, thôn T, xã K, huyện K với diện tích cả hai thửa đất là 2.019,7m².
Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện K thu hồi, sửa đổi và cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản và nhà ở gắn liền với đất số phát hành BU971019, số vào sổ CH 01234 do UBND huyện K cấp ngày 13/2/2015 mang tên Lê Bá C và Đào Thị Hồng V.
Giao cho bà Bùi Thị Thanh H được quyền quản lý, sử dụng 02 thửa đất nông nghiệp là thửa đất số 553 và thửa đất số 555, tờ bản đồ số 11, địa chỉ thửa đất tại V, thôn T, xã K, huyện K với diện tích cả hai thửa đất là 2.019,7m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản và nhà ở gắn liền với đất số phát hành CD 14682; số vào sổ CH 01522 ngày 17/6/2016 do UBND huyện K cấp mang tên Bùi Văn T2 và Trần Thị T1. Bà Bùi Thị Thanh H có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
Bản án còn tuyên về chi phí thẩm định, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/9/2024, bị đơn bà Đào Thị Hồng V kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DS–ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, cho rằng thửa đất số 553, 555 bà đã được cấp giấy CNQSD đất theo đúng quy định pháp luật. Vì vậy, bản án sơ thẩm xét xử chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn bà Đào Thị Hồng V vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung đơn kháng cáo của nguyên đơn đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án Dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện về việc đòi tài sản là quyền sử dụng đất nông nghiệp của cụ Bùi Văn T2 và cụ Trần Thị T1 (Bố mẹ đẻ đã mất của nguyên đơn) mà nguyên đơn là người được thừa kế, đây là tranh chấp quyền sở hữu tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; thửa đất có tranh chấp tại vùng đồng Đăng Cao, thôn T, xã K, huyện K. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn:
[2.1] Về nguồn gốc đất:
Xét thấy, hai thửa đất nông nghiệp đang tranh chấp có nguồn gốc được nhà nước giao đất cho hộ ông Bùi Văn T2 và bà Trần Thị T1 theo Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ đã được Ủy ban nhân dân huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành SSG 244048 vào năm 1993. Đến năm 2011, thực hiện chủ trương chia lại, cấp đổi ruộng đất thì ông bà được cấp đổi thành hai thửa là thửa 553 và thửa 555, tờ bản đồ số 11. Đến năm 2016, ông bà đã được Ủy ban nhân dân huyện K cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản và nhà ở gắn liền với đất số phát hành CD 14682; số vào sổ CH 01522 ngày 17/6/2016 do UBND huyện K cấp mang tên Bùi Văn T2 và Trần Thị T1.
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận vào năm 2002, nguyên đơn đã cho vợ chồng bị đơn là ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V mượn hai thửa đất để canh tác, mặc dù tại thời điểm cho mượn đất các bên không lập hợp đồng mượn tài sản bằng văn bản, nhưng do nguyên đơn và bị đơn thừa nhận có sự việc cho mượn đất để canh tác nên sự kiện này không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì vậy, có căn cứ xác định 02 thửa đất nông nghiệp đang tranh chấp có nguồn gốc được nhà nước giao đất cho ông Bùi Văn T2 và bà Trần Thị T1.
[2.2] Về quá trình sử dụng đất:
Sau khi được cấp giấy CNQSD đất năm 1993, hộ ông Bùi Văn T2 và bà Trần Thị T1 quản lý, sử dụng và canh tác trên thửa đất. Đến năm 2002, ông Bùi Văn T2 và bà Trần Thị T1 cho vợ chồng ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V mượn canh tác. Hiện nay, 02 thửa đất nêu trên đang được ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V sử dụng sản xuất.
[2.3] Xét tính hợp pháp của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 972019 do UBND huyện K cấp ngày 13/02/2015 mang tên Lê Bá C và Đào Thị Hồng V:
Ngày 13 tháng 02 năm 2015, UBND huyện K cấp Giấy CNQSD số BU 972019 mang tên Lê Bá C và Đào Thị Hồng V đối với thửa đất số 553 và 555 là cấp trước khi cấp giấy CNQSD đất cho ông Bùi Văn T2 và Trần Thị T1 do UBND huyện K cấp ngày 17/10/2016. Tuy nhiên, nguồn gốc 02 thửa đất số 553 và 555, tờ bản đồ số 11 là được nhà nước giao đất cho hộ ông Bùi Văn T2 và bà Trần Thị T1 theo Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ đã được Ủy ban nhân dân huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành SSG 244048 vào năm 1993. Đến năm 2011, thực hiện chủ trương chia lại, cấp đổi ruộng đất thì ông bà được cấp đổi thành hai thửa là thửa số 553 và thửa số 555, tờ bản đồ số 11. Đến năm 2016, ông bà đã được Ủy ban nhân dân huyện K cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản và nhà ở gắn liền với đất số phát hành CD 14682; số vào sổ CH 01522 ngày 17/6/2016 mang tên Bùi Văn T2 và Trần Thị T1. Căn cứ theo giấy CNQSD đất số SSG 244048 năm 1993 mang tên Bùi T2 thì thời hạn sử dụng đất đối với các thửa đất nông nghiệp là đến tháng 8/2015. Vì vậy, UBND huyện K cấp giấy CNQSD đất đối với thửa đất số 553 và 555 cho ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V khi các thửa đất đang trong thời hạn sử dụng của ông Bùi Văn T2 và bà Trần Thị T1 là vi phạm quy định pháp luật.
Mặt khác, trong sổ chia lại ruộng đất năm 2011 của xã K chỉ thể hiện hộ ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V được chia lại theo đúng hạn mức đất nông nghiệp là 05 thửa (gồm thửa đất số 26; 233; 283; 792; 895, tờ bản đồ số 11) với tổng diện tích là 4.654,1m² và tại Văn bản trả lời của UBND xã K và Ủy ban nhân dân huyện K đều khẳng định hai thửa đất số 553 và thửa đất số 555, tờ bản đồ số 11 là của ông Bùi Văn T2 và bà Trần Thị T1, việc trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V có hai thửa đất này là do cấp trùng. Ngoài ra, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU971019, số vào sổ CH 01234 do UBND huyện K cấp ngày 13/2/2015 mang tên Lê Bá C và Đào Thị Hồng V không có hồ sơ lưu trữ.
Vì vậy, có căn cứ xác định việc UBND huyện K cấp giấy CNQSD đất số CD 146821 ngày 17/10/2016 đối với thửa đất số 553 và thửa đất số 555 mang tên ông Bùi Văn T2 và bà Trần Thị T1 là đảm bảo quy định pháp luật.
Từ những nhận định trên xét thấy Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 chấp nhận yêu cầu kiện đòi đất ruộng của bà Bùi Thị Thanh H; buộc vợ chồng ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V phải trả lại hai thửa đất nông nghiệp là thửa đất số 553 và thửa đất số 555, tờ bản đồ số 11 có diện tích là 2.019,7m² là có căn cứ.
[2.4]. Các đương sự không yêu cầu hủy giấy CNQSD đất và giấy CNQSD đất của hộ ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V được cấp đúng thẩm quyền, đã thể hiện cơ bản đầy đủ các thửa đất của hộ ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V được chia lại vào năm 2011 nên Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện K thu hồi và sửa đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V là đảm bảo quy định pháp luật.
[2.5] Bị đơn bà Đào Thị Hồng V kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh các nội dung kháng cáo của mình.
Từ những phân tích trên xét thấy không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn bà Đào Thị Hồng V.
[3] Về chi phí thẩm định: Nguyên đơn đồng ý chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng và đã nộp đủ tại cấp sơ thẩm.
[4] Về án phí: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 24, khoản 1, 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn bà Đào Thị Hồng V. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Căn cứ vào Điều 73, Điều 75 Luật Đất đai năm 1993; khoản 1 Điều 67, Điều 105 Luật Đất đai năm 2003; Điều 106, Điều 166, Điều 170, điểm a khoản 1 Điều 179, khoản 3 Điều 210 Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 709 Bộ luật Dân sự năm 1995; Điều 424, Điều 255, Điều 256 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 116, Điều 117, khoản 2 Điều 165, khoản 1 Điều 166, Điều 494, Điều 495 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 24, khoản 1, 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Thanh H.
- Về chi phí thẩm định:
- Về án phí:
- - Án phí sơ thẩm: Bị đơn bà Đào Thị Hồng V phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- - Án phí phúc thẩm: Bị đơn bà Đào Thị Hồng V phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0002514 ngày 25/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh.
Buộc vợ chồng ông Lê Bá C và bà Đào Thị Hồng V trả lại cho bà Bùi Thị Thanh H (là người thừa kế hợp pháp của hộ ông Bùi Văn T2 và bà Trần Thị T1) 02 thửa đất nông nghiệp là thửa đất số 553 và thửa đất số 555, tờ bản đồ số 11, địa chỉ thửa đất tại V, thôn T, xã K, huyện K với diện tích cả hai thửa đất là 2.019,7m².
Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện K thu hồi, sửa đổi và cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản và nhà ở gắn liền với đất số phát hành BU971019, số vào sổ CH 01234 do UBND huyện K cấp ngày 13/2/2015 mang tên Lê Bá C và Đào Thị Hồng V.
Giao cho bà Bùi Thị Thanh H được quyền quản lý, sử dụng 02 thửa đất nông nghiệp là thửa đất số 553 và thửa đất số 555, tờ bản đồ số 11, địa chỉ thửa đất tại V, thôn T, xã K, huyện K với diện tích cả hai thửa đất là 2.019,7m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản và nhà ở gắn liền với đất số phát hành CD 14682; số vào sổ CH 01522 ngày 17/6/2016 do UBND huyện K cấp mang tên Bùi Văn T2 và Trần Thị T1. Bà Bùi Thị Thanh H có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
Nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh H đồng ý chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) và đã nộp đủ tại cấp sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Các Thẩm phán | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa | |
| Bùi Minh Thư | Trần Thị Thu Hiền | Hồ Đức Quang |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Đức Quang |
Bản án số 27/2025/DS-PT ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng lúa
- Số bản án: 27/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng lúa
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án DSPT H - V
