TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2025/DS-PT Ngày: 21/3/2025. V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. | NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đại Long.
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Dung và ông Lê Văn Quân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Chùy - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 102/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 38/2024/DS - ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Bùi Thị P; sinh ngày 10/4/1965 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, Thanh Hóa.
* Bị đơn: Bà Bùi Thị T; Sinh ngày 04/10/1965 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, Thanh Hóa.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Bùi Thị T: Chị Bùi Thị K, sinh năm: 1987 (Văn bản ủy quyền ngày 15/9/2023). (có mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, Thanh Hóa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Bùi Văn T1, sinh năm: 1972 (có mặt)
- Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Xuân H - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Ông Lê Văn T2 - Chức vụ: Trưởng phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
2
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Văn L - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện T.
Người đại diện theo ủy quyền của ông L: Ông Bùi Văn T3 - Chức vụ: Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
- Cụ Bùi Thị V - sinh 1932 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, Thanh Hóa.
* Người làm chứng:
- Ông Bùi Quốc T4 - sinh năm 1972 (vắng mặt)
- Bà Bùi Thị S - sinh năm 1967 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Bùi Thị P trình bày:
Bố mẹ bà Bùi Thị P là cụ Bùi Văn C và cụ Bùi Thị V có tạo dựng được một thửa đất tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi tuổi già sức yếu bố mẹ bà P đã tách đất cho hai người con trai là ông Bùi Văn Q và ông Bùi Văn T1. Do bà P không có đất để ở nên em trai bà P là Bùi Văn T1 có tách một phần đất của ông T1 cho bà P vào năm 2009, đến ngày 26/12/2020 bà P đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CY 624192, tờ bản đồ số 07, thửa đất số 519 với diện tích 825,5 m² (tại thôn T, xã T).
Vào đầu năm 2023, chị dâu bà P là bà Bùi Thị T (Vợ anh Q) đã chặn lối đi duy nhất để vào nhà bà P. Từ khi bà T chăn lối đi, bà P không còn lối đi vào nhà. Bà P đã báo cáo lên UBND xã T, và UBND xã T cũng đã tiến hành đo đạc, xác minh và xác định diện tích đất của bà P bị giảm so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sau đây viết là GCNQSDĐ) là 173,6 m² (Nguyên nhân là do bà T đã lấn chiếm lối đi của bà P).
Đến nay, bà P yêu cầu Tòa án buộc bà Bùi Thị T phải trả lại cho bà P diện tích đất là 173,6m² (là đất ngõ đi của bà P, hiện bà T đang lấn chiếm, sử dụng) chiều rộng là 5m chiều dài từ đường liên thôn đến giáp đất phía trước nhà bà P và thu hoạch toàn bộ cây cối hiện có trên đất ngõ đi.
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là chị Bùi Thị K trình bày:
Ông Q và ông T1 được cụ C và cụ V là ông bà nội của chị Kim C1 cho mỗi người một phần thửa đất mà hai cụ tạo dựng được. Bố, mẹ chị K sau khi kết hôn đã sinh sống trên mảnh đất đang ở hiện tại từ năm 1984 đến nay. Năm 2006, Nhà nước cấp GCNQSDĐ cho ông Q, bà T với diện tích 1259 m². Từ ngày được cấp giấy đến nay thửa đất vẫn giữa nguyên hiện trạng không có tranh chấp gì.
Trên phần đất của ông Q hiện có nhà đã xây dựng từ năm 1990 đến nay, không có tranh chấp gì với ông T1. Phần đất bà P đang tranh chấp hiện nay là
3
đất của ông Q, bà T. Năm 2009, ông Bùi Văn T1 có cắt cho chị gái là bà Bùi Thị P một phần đất của ông T1. Năm 2017 ông Bùi Văn T1 xây tường rào không để phần đất nào làm lối đi cho bà P. Ông T1 xây tường rào có lấn sang phần ngõ nhà bà T. Bà Bùi Thị P không có lối đi vào nhà nên bà P đã đến xin bà Bùi Thị T cho đi nhờ ngõ, kể từ đó bà P đi chung ngõ với nhà bà T.
Tháng 4/2023, bà T được UBND xã T mời đến trụ sở UBND xã để hòa giải thì khi đó bà T mới biết ông T1 đã làm lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2019, khi cắt đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T1, bà P cán bộ thôn T và xã T không tổ chức đo đạc để bà T ký giáp ranh các thửa đất nên bà T không biết. Từ năm 1984 lối đi là của gia đình nhà bà T. Đến nay chị K khẳng định bà P đi nhờ trên phần đất thuộc quyền sử dụng của bà T. Phần đất bà P đang yêu cầu Tòa án giải quyết là đất thuộc quyền sử dụng của bà T, không phải là đất của ông T1 cho bà P. Chị K đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho bà T.
* Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn T1:
Trước đây bố mẹ ông T1 là Bùi Văn C và mẹ là Bùi Thị V có tạo dựng được một thửa đất tại thôn T, xã T. Sau khi tuổi già sức yếu bố mẹ ông T1 đã tách đất cho hai người con trai là ông Bùi Văn Q và ông Bùi Văn T1. Ranh giới phân chia giữa hai khu đất của ông T1 và ông Q là một đường thẳng, trên phần đất của ông T1 được chia có một phần ngôi nhà cấp 4 của ông Q, bà T đang ở, vì là anh em ruột nên ông T1 không yêu cầu ông Q, bà T tháo dỡ. Diện tích đất ông T1 được bố, mẹ tách cho theo bản đồ đo vẽ năm 2003 có diện tích là 1.776 m². Theo bản đồ đo vẽ năm 2007 thì thửa đất được chỉnh lý lại còn 1.499 m² (trong đó chiều mặt đường là 20,9 m. Do bà Bùi Thị P (Chị gái ông T1) không có đất ở nên ông T1 có cắt một phần đất là 825,5 m² cho cho bà P (Trong đó chiều mặt đường ông đã cắt cho bà P 05m để làm lối đi) vì vậy chiều mặt đường đất nhà ông T1 chỉ còn 15,9 m. Khi cấp lại GCNQSDĐ năm 2020 diện tích đất của ông T1 còn lại là 673,5 m². Ông T1 khẳng định đất ông T1 chuyển nhượng cho bà P, ông T1 đã cắt làm lối đi (cổng) cho bà P có chiều dài 43,4m và chiều rộng 5m trong đó chiều dài 43,4m song song với đất nhà bà T và đất nhà ông T1. Hiện nay bà T là người lấn chiếm đất của bà P (lối đi rộng 5m, dài 43,4m, ông T1 đề nghị Tòa án giải quyết để bà P lấy lại đất bà T lấn chiếm và đủ diện tích đất mà ông T1 đã chuyển nhượng cho bà P.
* Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ Bùi Thị V: Hiện cụ đã tuổi cao không nhớ rõ cụ thể chỉ nhớ là đã cho đất Q và T1.
* Ý kiến của người làm chứng bà Bùi Thị S: Khi chuyển đến ở từ năm 1991 thì chưa có lối đi nên gia đình tôi có xin nhà ông Bùi Quốc T4 và bà Bùi Thị T một phần đất cụ thể là nhà bà T rộng 1,5m dài 8m còn ông T4 là rộng 1m dài 8m. Tiếp đến từ sau chiều dài 8m thì bà T cho có chiều dài hết đất nhà bà T, rộng nhất giáp cổng nhà bà bà T là 2,3m nhà ông T4 cho 0,5m kéo dài hết đất nhà ông T4 làm đường đi.
4
* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản. Theo kết quả đo đạc bằng máy đo chuyên dụng thì diện tích đất hiện tại đang sử dụng của gia đình bà P có diện tích là 651,96m² (Thiếu 173,6m² so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp).
Đất của gia đình bà T có diện tích là 1394,6 m² (Tăng 204.6m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 1190 m²), phần diện tích đất tăng là do phần đất bà T đang chiếm dụng đất của bà P 173,6m² (Đất đang tranh chấp) và ông T1 xây tường rào lùi vào 31m².
Đất của gia đình ông T1 có diện tích là 631,7m² (giảm 41,8m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp). phần diện tích đất bị giảm là do gia đình ông T1 xây tường rào lùi vào phía trong nên diện tích đất sang gia đình bà P là 10.8m² và sang gia đình bà T 31m²
* Theo văn bản số 76/UBND- ĐCXD ngày 06/5/2024 của UBND xã T, thể hiện:
- Về Nguồn gốc đất đang tranh chấp:
Nguồn gốc đất là do bố mẹ khai hoang trước năm 1980 để lại cho hai anh em là ông Bùi Văn Q (đã Chết) là chồng bà Bùi Thị T. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 807638 cấp ngày 16/11/2006 và ông Bùi Văn T1 em trai của ông Q. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 807637 cấp ngày 16/11/2006. Năm 2020 ông Bùi Văn T1 cho tặng lại một phần diện tích đất thuộc quyền sở hữu của mình cho chị gái là bà Bùi Thị P. Hiện nay các bên đều có giấy chứng nhận sử dụng đất. Cụ thể bà Bùi Thị P có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 624192, số vào sổ CH 00489, cấp ngày 28/12/2020, ông T1 có giấy chứng nhận QSD đất mới sau khi cho tặng số CY 624127, số vào sổ CH 00490, cấp ngày 28/12/2020.
* Diện tích sử dụng đất của từng hộ như sau:
- Thửa đất số 257, tờ bản đồ số 7 thuộc quyền sử dụng đất của hộ ông Bùi Văn T1 có kích thước cạnh cụ thể như sau:
+ Phía Bắc giáp đường đi và hộ bà T5 có chiều dài lần lượt là 21,7m, 15,5m và 14,2m.
+ phía Nam giáp: Đất bà T là 42,3m giáp đất hộ bà P là 1,1m.
+ phía Đông giáp: đường thôn có chiều dài bám mặt đường là 16,4m
+ phía Tây giáp: Đất bà P là 12,8m
Tổng diện tích là 631,7m2
- Thửa đất số 70, tờ bản đồ số: 04 ( theo giấy chứng nhận sử dụng đất) nay đô đạc địa chính thành thửa 256, tờ bản đồ số 7 thuộc quyền sử dụng đất của hộ bà Bùi Thị T có kích thước cạnh cụ thể như sau:
+ phía Bắc giáp đất ông T1 có chiều dài là 42,3m.
+ Phía Nam giáp đường đi có chiều dài lần lượt là 19,6m, 30,8m, 3,8m và 8m (lối lên nhà ông D)
5
+ phía Đông giáp: đường thôn có chiều dài bám mặt đường là 23,7m
+ phía Tây giáp: Đất ông D là 15,9m.
Tổng diện tích là: 1394,6m2 (đo cả phần đường đi chung mà bà Bùi Thị Thanh C2)
- Thửa đất số 519, tờ bản đồ số 7 thuộc quyền sử dụng đất của hộ bà Bùi Thị P có kích thước cụ thể như sau:
+ phía Bắc giáp: đường đi có chiều dài lần lượt là 19m, 3,8m, 3,3m và 11,6m
+ Phía Nam giáp: đất bà T là 40,7m
+ phía Đông giáp: đất ông T1 12,8m, đất bà T là 6,7m
+ phía Tây giáp: đất 02 bà P là 16,5m
Tổng diện tích là: 651,9m2 (Hiện tại hộ bà Bùi Thị P không có đường đi).
* Biến động tăng giảm diện tích của từng thửa đất như sau:
- Thửa đất số 257, tờ bản đồ số 7 thuộc quyền sử dụng đất của ông Bùi Văn T1 cụ thể như sau:
Biến động tăng giảm về diện tích, So với GCN QSD đất đã cấp: giảm 41,8m2, So với bản đồ đị chính xã T vẽ năm 2007: giảm 41,8m2
Nguyên nhân giảm diện tích 41,8m so với giấy chứng nhận QSD đất và so với bản đồ địa chính năm 2007 là do gia đình tự xây dựng tường rào cố định xây lui vào phía trong thửa đất của gia đình nên diện tích giảm sang hộ bà Bùi Thị P là 10,8m2, bà T 31m2.
- Thửa đất số 70, tờ bản đồ số 04 ( theo giấy chứng QSDDĐ) nay đo đạc địa chính thành thửa 256, tờ bản đồ số 7 thuộc quyền sử dụng của hộ bà Bùi Thị T cụ thể như sau:
Biến động tăng giảm về diện tích:
So với GCN QSD đất đã cấp tăng 135,6m2
So với bản đồ đại chính xã T vẽ năm 2007: tăng 204,6m2
Nguyên nhân tăng diện tích so với giấy chứng nhận quyền sử dụng vào đất đường đi của hộ bà Bùi Thị P là 173,6m2 và 31m2 đất do hộ ông T1 tự xây tường rào lùi vào đất của hộ ông T1.
- Thửa đất số 519, tờ số 7 thuộc quyền sử dụng đát của hộ bà P cụ thể như sau:
Biến động tăng giảm về diện tích
So với GCN QSD đất đã cấp giảm 173,6m2
So với bản đồ địa chính xã thành an đo vẽ năm 2007: Giảm 173,6m2
Nguyên nhân giảm diện tích so với bản đồ địa chính năm 2007 là do gia đình bà T đang sử dụng ngăn cản không cho bà P sử dụng số diện tích đất trên để làm đường đi.
6
- Theo biên bản thẩm định của Tòa án ngày 28/12/2023, với sự đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai huyện T đo vẽ: Hiện trạng các thửa đất như trình bày của Ủy ban nhân dân xã T.
* Kết quả thẩm định lại ngày 09/01/2025 của của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa cụ thể như sau:
- Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS756076 thửa số 257 tờ bả đồ số 7 địa chỉ xã T, huyện T cấp cho ông Bùi Văn T1 diện tích là 1499m² đất ở.
+ Theo đo đạc thực tế là 1339,54m² trong đó:
Nhà ông Bùi Văn T1 hiện sử dụng: 648,42m², có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đường thôn chiều dài 16,61m; Phía Tây giáp nhà bà Bùi Thị P chiều dài 12,71m; Phía Nam giáp hộ nhà bà Bùi Thị T và giáp phần đất đang tranh chấp chiều dài là 43,47m; Phía Bắc giáp ngõ và hộ ông Bùi Văn M chiều dài 36,85 + 14,24m.
Nhà bà Bùi Thị P có diện tích là 691,12m² có tứ cận như sau: Phía Đông giáp hộ ông Bùi Văn T1 chiều dài 12,71m và phần đất đang tranh chấp 7,09m; Phía Tây giáp hộ ông Bùi Văn D (đất trồng cỏ) dài 16,45m; Phía Nam giáp hộ ông Bùi Văn D dài 4,28m và giáp hộ nhà bà Bùi Thị Thanh D1 3,6m+0,83m+12,98m+10,16m+7,81m; Phía Bắc giáp hộ ông Bùi Văn M dài 7,6m+3,68m+7,12m+3,35m+2,34m+2,71m+16,29m.
- Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 807638 cấp cho ông Bùi Văn Q và bà Bùi Thị Thanh T6 số 70 tờ bản đồ số 04 có diện tích là 1259m² đất ở.
+ Theo đo đạc thực tế diện tích là 1292,58m² có tứ cận: Phía Đông giáp dường thôn dài 16,85m + 5,38m; Phía Tây giáp hộ ông Bùi Văn D dài 11,78m; Phía Nam giáp ngõ vào nhà ông Bùi Văn D và đất hộ ông Bùi Văn D dài 14,97m + 10,3m+ 12,3m+5m+7,16m+3,55m+8,05m+4,8m; Phía Bắc giáp hộ bà Bùi Thị P dài 3,6m+0,83m+12,98m+10,16m+7,81m giáp phần đất tranh chấp 43,47m.
- Phần đất tranh chấp giữa nhà ông Bùi Văn T1 và bà Bùi Thị T có diện tích 242,68m2 có tứ cận: Phía Đông giáp đường thôn dài 5m; phía Tây giáp hộ bà Bùi Thị P dài 7,09m; Phía Nam giáp hộ bà Bùi Thị Thanh D1 40,88m; Phía Bắc giáp hộ ông Bùi Văn T1 dài 43,07m.
- Phần tranh chấp có diện tích là 199,91m² cụ thể: Phía Đông giáp đường thôn dài 5m; phía Tây giáp hộ bà Bùi Thị P dài 5m; Phía Nam giáp hộ bà Bùi Thị Thanh D1 40,97m; Phía Bắc giáp hộ ông Bùi Văn T1 dài 43,07m
* Tài sản trên đất phần tranh chấp cụ thể: Một ngôi nhà diện tích 10,05m² có tứ cận Phía Đông dài 1,84m; Phía Tây dài 1,68m; Phía Nam dài 5,32m; Phía Bắc dài 5,72m và một sân diện tích 12,58m² có tứ cận Phía Đông dài 1,82m; Phía Tây dài 1,84m; Phía Nam dài 6,83m; Phía Bắc dài 6,93m; Một cây táo to, một cây táo nhỏ, một cây ổi, một cây đu đủ.
7
Khoảng cách từ nhà ngói đang tranh chấp đến bờ tường xây giáp nhà ông T1 là 3,19m. Khoảng cách từ góc sân đến tường xây là 2,89m.
Tại phiên tòa các đương sự khác giữ nguyên quan điểm của mình như đã trình bày ở trên.
Theo chứng thư thẩm định giá số 429/2025/CN0346-AMC Về phần đất và tài sản trên đất phần đang tranh chấp: Về đất ở loại đất ONT diện tích 242,68x700.000đồng/m²= 169.876.000đ; Nhà cấp 4 mái tôn diện tích 48,15m² là 25.586.385đ; Sân bê tông diện tích là 55,76m² là 825.248đ; Cây táo to là 350.000đ; Cây táo nhỏ là 50.000đ; cây ổi là 200.000đ; Cây đu đủ là 250.000đ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2024/ DS -ST ngày 20/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa đã áp dụng: Căn cứ vào các Điều 12, 166, 170, 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 166; 175; 176 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 147, 157, Điều 165, 166 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, Điểm a, khoản 2, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị P
- Buộc bà Bùi Thị T phải trả lại cho bà Bùi Thị P phần diện tích đất đã lấn chiếm tại thửa số 519, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã T, huyện T là 173,6m², C3 tứ cận như sau:
- - Phía Đông giáp đường liên thôn, có chiều rộng tính từ bờ tường xây của gia đình ông Bùi Văn T1 là 4,5m (Từ điểm M5 đến điểm M12);
- - Phía Tây giáp đất của bà phú, có chiều dài 5m tính từ điểm M6 đến điểm tiếp giáp đất của bà T.
- - Phía Nam giáp đất của ông T1, có chiều dài 42,3 m (Từ điểm M5 đến điểm M6);
- - Phía Bắc giáp thửa đất nhà bà T có chiều dài 40.3m (Tính từ Điển M12 vào hướng M11).
- Buộc bà T phải tháo dỡ toàn bộ phần ngôi nhà nằm trên đất của bà P với diện tích là 7,695 m²( chiều dài phía Đông dài 1,25 m, chiều dài phía Tây là 1,55m và chiều ngang phái Bắc của ngôi nhà là 5,7m. Diện tích phần nhà nằm trên đất của bà P là 7,695 m².
- Buộc bà Bùi Thị T phải di dời các cây đã trồng trên phần diện tích đất mà bà T phải trả lại cho bà P: Gồm 1 cây táo nhỏ; 01 cây táo to; 1 cây ổi; Cây sắn 15 m²; 01 cây đu đủ.
Gianh giới giữa đất nhà bà T và bà P được cắt thành một đường thẳng từ điểm M12 đến điểm M11. Phần diện tích trên được giới hạn bởi các điểm M6, M5, M12, M11.(Có sơ đồ thể hiện bảng tọa độ các điểm kèm theo bản án).
Ngoài ra Bản án còn quyết định về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa có ý kiến: Về kiểm sát tuân theo pháp luật tố tụng, từ khi
8
thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), những người tham gia tố tụng trong vụ án đều tuân theo pháp luật tố tụng Dân sự.
- Về nội dung đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS quyết định theo hướng: Bác phần kháng cáo của bà Bùi Thị T về yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm số38/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành hoặc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị P về việc đòi quyền sử dụng đất có diện tích 173,6m². Chấp nhận phần kháng cáo sửa bản án sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành.
- Về án phí phúc thẩm: Đề nghị HĐXX căn cứ NQ 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án để xem xét và quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; xét kháng cáo của bị đơn và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1]. Về tố tụng và quan hệ pháp luật: Bà Bùi Thị P có đơn khởi kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất mà bà Bùi Thị T đang lấn chiếm. Do đó, xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”. Bà Bùi Thị T đang có nơi cư trú tại xã T, huyện T, diện tích đất đang tranh chấp cũng tại thôn T, xã T huyện T. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 36, điểm a và c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử theo Điều 227 và Điều 229 BLTTDS.
[2] Về tố tụng: Xét tính hợp pháp của kháng cáo:
Ngày 20/9/2024, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án. Ngày 02/10/2024 bị đơn bà Bùi Thị T kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành hoặc sửa bản án sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị P về việc đòi quyền sử dụng đất có diện tích 173,6m². Người kháng cáo đã nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại các Điều 273; Điều 275 và Điều 276 BLTTDS. Nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[3]. Xét kháng cáo của bị đơn bà Bùi Thị T:
Theo đơn kháng cáo đề ngày 02/10/2024 bị đơn bà Bùi Thị T kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành hoặc sửa bản án sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành và
9
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị P về việc đòi quyền sử dụng đất có diện tích 173,6m².
HĐXX xét thấy về nguồn gốc, vị trí mốc giới, diện tích của các thửa đất số 519, 257 và 256 cụ thể như sau:
* Về nguồn gốc: Ông Bùi Văn Q và ông Bùi Văn T1 được cụ Bùi Văn C và cụ Bùi Thị V cho mỗi người một phần đất của thửa đất mà hai cụ đã tạo dựng tại thôn T, xã T, huyện T vào năm 1984 (Một phần cho ông Bùi Văn Q và một phần cho ông Bùi Văn T1) gianh giới hai thửa đất cắt thành một đường thẳng. Như vậy đây là đất được bố mẹ cho, ông Q và ông T1 được sử dụng là hợp pháp. Ông Bùi Văn Q (đã Chết) là chồng bà Bùi Thị T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 807638 cấp ngày 16/11/2006 và ông Bùi Văn T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 807637 cấp ngày 16/11/2006. Năm 2020 ông Bùi Văn T1 cho tặng lại một phần diện tích đất thuộc quyền sở hữu của mình cho chị gái là bà Bùi Thị P. Cụ thể bà Bùi Thị P có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 624192, số vào sổ CH 00489, cấp ngày 28/12/2020 thửa số 519, tờ bản đồ số 07 diện tích 825.5m² đất ở. Ông T1 có giấy chứng nhận QSD đất mới sau khi cho tặng số CY 624127, số vào sổ CH 00490, cấp ngày 28/12/2020 thửa 257 tờ bản đồ số 07, diện tích 673.5m² đất ở tất cả đều có địa chỉ thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
* Về vị trí mốc giới phần đất tranh chấp: Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nhà ông T1 diện tích là 1499m²; Phía Đông giáp đường thôn có chiều dài là 20,9m giáp với đất nhà bà T. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp năm 2020 ông T1 đã tách cho bà P 5m làm đường đi ông còn sử dụng là 15,5m. Mốc giới được xác định từ ngõ nhà ông Bùi Hồng M1 sang đến nhà bà T là 20,5m. Kết quả đo đạc thực tế nhà ông T1 đang sử dụng chiều dài phía Đông giáp đường thôn là 16,61m còn thiếu là 3,89m. Như vậy phần đất 5m Phía Đông giáp đường thôn, phía Tây giáp hộ bà Bùi Thị P dài 5m có diện tích đang tranh chấp là 199,91m² (còn trong đơn khởi kiện là 173,6m²), nhà bà T cho rằng toàn bộ là của nhà bà T, bà khẳng định không lấn chiếm là không có cơ sở để chấp nhận.
Về diện tích đất của ông Bùi Văn T1: Năm 2006 Nhà nước đo đạc và ngày 16/11/2006 ông T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) tại thửa đất số 71, tờ bản đồ 04 với diện tích đất là 1776m². Theo bản đồ đo vẽ chỉnh lý năm 2007 thì thửa đất của ông T1 là thửa 257, tờ đồ số 7 còn lại là 1.499 m² (trong đó chiều mặt đường là 20,9m). Như vậy về diện tích đất của ông T1 được nhà nước cấp công nhận là 1.499m² đã được ông T1 thừa nhận là có cơ sở, cấp sơ thẩm nhận định là có căn cứ.
- Theo kết quả đo đạc hiện trạng ngày 09/01/2025 và bản đồ địa chính cụ thể:
+ Kết quả đo đạc (nhà bà P) hiện sử dụng diện tích 691,12m² theo bản đồ địa chính về phía Bắc giáp hộ nhà ông M1 hụt diện tích 15,34m².
10
+ Kết quả đo đạc nhà ông T1 hiện sử dụng diện tích 648,42m² theo bản đồ địa chính: Phía Đông giáp đường thôn diện tích hụt 23,53m²; Phía Bắc giáp ngõ và hộ ông Bùi Văn M hụt 9,95m.
Tổng diện tích đất theo kết quả hiện trạng và bản đồ địa chính diện tích là 691.12m²+15.34m²+648.42m²+23.53m²+9.95m²=1388,36m².
Diện tích theo GCNQSD đất được cấp là 1499m² diện tích thiếu là 110,64m².
* Về diện tích đất của ông Bùi Văn Q và bà Bùi Thị T: Ông Q, bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) tại thửa đất số 70, tờ bản đồ 04 (nay theo bản đồ là thửa số 256 tờ bản đồ số 7) với diện tích đất là 1259 m² ngày 16/11/2006. Theo bản đồ đo vẽ năm 2007 thì thửa đất còn lại là 1190m² (Ông Q đã ký xác nhận tại biên bản bàn giao diện tích đo đạc cho chủ sử dụng đất ngày 10/3/2007 không có ý kiến gì). Như vậy về diện tích đất của ông Q được nhà nước công nhận 1190m2, diện tích đất này đã được ông Q thừa nhận là có cơ sở, cấp sơ thẩm nhận định là có căn cứ.
- Theo kết quả đo đạc ngày 09/01/2025 nhà bà T hiện đang sử dụng là 1292.58m², theo bản đồ địa chính phía Đông giáp đường thôn hụt 10m²; Phía Tây giáp hộ ông Bùi Văn D hụt 10,72m²; Phía Nam giáp ngõ vào nhà ông Bùi Văn D và đất hộ ông Bùi Văn D hụt 2,97m²+22,37m²; Phía Bắc giáp hộ bà Bùi Thị P hụt 53,47m².
Tổng diện tích theo kết quả hiện trạng và bản đồ địa chính là: 1292.58m²+10m²+ 10.72m²+ 2.97m²+22.37m²+ 53.47m²1392.11m²=1392,11m².
Diện tích được công nhận là 1190m² diện tích thừa là 202,11m²
Hiện tại nhà bà P đang sử dụng về phí Bắc của bà T diện tích là 53,47m² nên được trừ vào diện tích phần đất thừa của bà T đang tranh chấp vì đã tính vào phần đất cho bà P là phù hợp với thực tế nên diện tích nhà bà T còn thừa là 148,64m².
* Theo kết quả đo đạc thực tế và bản đồ địa chính như đã phân tích như trên thì hiện tại nhà bà P đang thiếu diện tích là 110,64m² do bà T đang sử dụng vào đường đi của bà P nên buộc bà T phải trả lại cho bà P do lấn chiếm là phù hợp, cụ thể tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp đường liên thôn, có chiều rộng tính từ bờ tường xây của gia đình ông Bùi Văn T1 là 2,73m sang tiếp giáp đất của bà T;
- Phía Tây giáp đất của bà P, có chiều rộng tính từ bờ tường xây của gia đình nhà ông T1 là 2,73m sang tiếp giáp nhà bà T;
- Phía Nam giáp đất của ông T1, có chiều dài 43,47m;
- Phía Bắc giáp thửa đất nhà bà T có chiều dài 42,10m.
(Có sơ đồ đo đạc hiện trạng kèm theo).
* Theo văn bản số 76/UBND- ĐCXD ngày 06/5/2024 của UBND xã T nguyên nhân thiếu thừa là do các bên tự ý xây dựng tường dào và hiện tại nhà bà
11
T tăng diện tích so với giấy chứng nhận quyền sử dụng vào đất đường đi của hộ bà Bùi Thị P là 173,6m² và 31m² đất do hộ ông T1 tự xây tường rào lùi vào đất của hộ ông T1.
Từ những phân tích như trên HĐXX có cơ sở kết luận:
* Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Bùi Thị T về yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm số38/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành hoặc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị P về việc đòi quyền sử dụng đất có diện tích 173,6m².
* Do đo đạc sai số liệu của cấp sơ thẩm so với thực tế hiện các bên đang sử dụng và bản đồ địa chính so với số liệu của cấp phúc thẩm nên chấp nhận một phần kháng cáo sữa bản án dân sự sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành.
* Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị P như đã phân tích ở trên.
* Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.
* Kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền giải quyết cho các đương sự theo quyết định của bản án.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đề nghị HĐXX là có căn cứ pháp luật.
* Chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm như thẩm định, đo đạc, định giá tài sản do người kháng cáo tự nguyện chịu nên HĐXX miễn xét.
[4] Về án phí: Kháng cáo của bà Bùi Thị T được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm trả lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án theo biên lai số 0002367 ngày 03/10/2024 của Chi cục thi hành án huyện Thạch Thành cho bà Bùi Thị T theo Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 293, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn sửa bản án dân sự sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành.
Căn cứ: Điều 5, khoản 9 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 244, Điều 271, Điều 272; Điều 273, Điều 227, Điều 229, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1, 4, 5, 9, 16, 24 Điều 3; Điều 12; khoản 3 Điều 17; khoản 7 Điều 166; khoản 1, khoản 5 Điều 170; Điều 202; khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai; khoản 1 Điều 175; 176 Bộ luật dân sự; Điều 29
12
Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị P:
- Buộc bà Bùi Thị T phải trả lại cho bà Bùi Thị P phần diện tích đất đã lấn chiếm tại thửa số 519, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã T, huyện T là 110,64m², có tứ cận như sau:
- - Phía Đông giáp đường liên thôn, có chiều rộng tính từ bờ tường xây của gia đình ông Bùi Văn T1 là 2,73m sang tiếp giáp đất của bà T;
- - Phía Tây giáp đất của bà P, có chiều rộng tính từ bờ tường xây của gia đình nhà ông T1 là 2,73m sang tiếp giáp nhà bà T;
- - Phía Nam giáp đất của ông T1, có chiều dài 43,47m;
- - Phía Bắc giáp thửa đất nhà bà T có chiều dài 42,10m.
- Buộc bà Bùi Thị T phải di dời các cây đã trồng trên phần diện tích đất mà bà T phải trả lại cho bà P: Gồm 1 cây táo nhỏ; 01 cây táo to; 1 cây ổi; 01 cây đu đủ và một số loại cây khác không có giá trị nên không liệt kê.
- Bác kháng cáo của bà Bùi Thị T về yêu cầu hủy bản án dân sự sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành hoặc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị P về việc đòi quyền sử dụng đất có diện tích 173,6m².
- Án phí phúc thẩm dân sự: Bùi Thị T được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm trả lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án theo biên lai số 0002367 ngày 03/10/2024 của Chi cục thi hành án huyện Thạch Thành cho bà Bùi Thị T.
(Có sơ đồ đo đạc hiện trạng kèm theo)
* Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.
* Kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền giải quyết cho các đương sự theo quyết định của bản án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Vũ Đại Long |
13
Bản án số 27/2025/DS-PT ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 27/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất đai
