Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/DS-PT

Ngày 3, 4/4/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay

tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà.

Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Như Phượng và bà Trần Thị Hồng.

Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Mỹ Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Hải Ly - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 3, 4 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 146/2024/TLPT-DS ngày 13 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 28/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  • - Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Mai C, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  • - Bị đơn: Bà Trần Dạ T, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  • - Người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn: Bà Phan Thị L, sinh năm 1963; địa chỉ: Số B, đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đak Lak. Có mặt.
  • Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Dạ T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1.1. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A trình bày:

Ngày 19/8/2023, bà Trần Dạ T có vay bà A số tiền gốc 350.000.000 đồng, thời hạn vay là 03 tháng, tiền lãi là 10.000.000 đồng. Đến ngày 19/11/2023, bà T sẽ trả cho bà Anh cả gốc và lãi. Nhưng khi đến hẹn bà T không trả tiền cho bà A mà khất nợ lần này đến lần khác.

Cũng trong ngày 19/8/2023, bà Trần Dạ T vay bà A số tiền gốc 100.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng, bà T tính tiền lãi là 10.000.000 đồng và cộng vào số tiền gốc và viết giấy nợ là 110.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận cho bà T trả dần 1.000.000 đồng/ngày cho đến khi trả hết nợ. Sau đó bà T đã trả cho bà A được 54.000.000 đồng và còn lại 46.000.000 đồng và 10.000.000 đồng tiền lãi bà T không trả nữa.

Ngày 07/9/2023, bà Trần Dạ T có vay bà A số tiền gốc 100.000.000 đồng, lãi suất là 3%/tháng, thời hạn đến ngày 07/12/2023. Nhưng khi đến hẹn bà T không trả tiền cho bà A mà khất nợ lần này đến lần khác.

Đối với bản sao kê chi tiết giao dịch có nội dung bà T chuyển tiền (Từ số tài khoản 101000845896 của bà T tại Ngân hàng TMCP C1 đến số tài khoản 5024205050949 của bà A tại Ngân hàng N) cho bà A từ 10/2022 đến tháng 11/2023, thì số tiền này có nội dung như sau:

  • - Các khoản tiền bà T chuyển cho bà A từ ngày 19/8/2023 về trước là tiền mượn và tiền góp hụi hai bên đã thực hiện xong rồi, bà A không có ý kiến gì.
  • - Số tiền bà T chuyển cho bà A từ ngày 19/8/2023 (Ngày vay tiền) đến ngày 18/11/2023 là trả tiền gốc 1.000.000 đồng cho khoản vay ngày 19/8/2023 với số tiền gốc là 100.000.000 đồng với 10.000.000 đồng tiến lãi (Giấy vay tiền 110.000.000 đồng); trả tiền lãi 3%/tháng cho khoản vay 100.000.000 đồng ngày 07/9/2023, là 100.000 đồng/ngày. Số tiền chuyển không đồng nhất vì là trong số tiền chuyển này còn có tiền bà T mua hàng văn phòng phẩm của bà A. Trong khoản vay 110.000.000 đồng thì bà T đã trả cho bà A được 54.000.000 đồng còn nợ lại 56.000.000 đồng.

Đến cuối tháng 11/2023, nghe thông tin bà T bể nợ nên bà A đến yêu cầu bà T chốt nợ và bà T ghi mực xanh phần dưới trong giấy vay tiền ngày 07/9/2023 là:

100.000

56.000

350.000

5.06.000

10.000 lãi

516.000

Là chữ viết của bà T ghi ra. Thực chất đó là các số tiền nợ còn lại là 100.000.000 đồng + 56.000.000 đồng + 350.000.000 đồng = 506.000.000 đồng + 10.000.000 đồng = 516.000.000 đồng.

Nay bà A yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh giải quyết buộc bà Trần Dạ T có trách nhiệm trả cho bà A tổng số tiền là gốc còn lại của 03 khoản vay là 350.000.000 đồng+100.000.000 đồng+46.000.000 đồng= 496.000.000 đồng.

Sự việc vay mượn tiền giữa bà A và bà T không liên quan gì đến chồng bà T cũng như chồng bà A nên bà A không yêu cầu đưa họ vào tham gì tố tụng.

1.2. Bị đơn bà Trần Dạ T trình bày:

Hiện bà T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim A và cho rằng chỉ còn nợ bà A hơn 300.000.000 đồng.

Đối với giấy mượn tiền ngày 19/8/2023 bà T vay bà A là 350.000.000 đồng, đó là tiền gốc là 305.000.000 đồng cộng tiền lãi 45.000.000 đồng bà T phải trả trên 3 tháng, bà T không có chứng cứ về việc này, bà T đồng ý chữ ký trong giấy mượn tiền này là chữ của bà T.

Đối với giấy mượn số tiền 110.000.000 đồng ngày 19/8/2023, thì đây là số tiền gốc 90.000.000 đồng và cộng thêm 20.000.000 đồng tiền lãi trên 03 tháng 20 ngày; sau đó bà T trả dần còn lại là 56.000.000 đồng và đã cộng vào trong giấy mượn số tiền 350.000.000 đồng, nhưng bà A không hủy giấy này mà để kiện bà T; bà T đồng ý chữ ký trong giấy mượn tiền này là chữ của bà T, hiện bà T không có chứng cứ gì về việc này.

Đối với giấy mượn số tiền 100.000.000 đồng ngày 07/9/2023, thì tiền này là tiền lãi 50.000.000 đồng tiền lãi; bà A đưa cho bà T 40.000.000 đồng, nhưng bà A bắt bà T ký giấy mượn số tiền 100.000.000 đồng; bà T đã chuyển khoản từ ngày 08/9/2023 mỗi ngày 1.000.000 đồng, chuyển được hơn 50 ngày, chữ viết mực xanh trong giấy mượn tiền trên là của bà T viết ra cùng ngày.

Sau đó bà T chuyển khoản trả dần cho bà A. Khi 1.100.000 đồng; khi 1.000.000 đồng; khi 1.300.000 đồng; khi 200.000 đồng . . . là tiền lãi của số tiền 516.000.000 đồng.

2. Giải quyết của tòa án cấp sơ thẩm:

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 70, 144, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Áp dụng các Điều 116, 117, 118, 119, 274, 275, 280, 357, 463, 466, 468 và 470 Bộ luật Dân sự.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A.

1. Buộc bà Trần Dạ T trả cho bà Nguyễn Thị Kim A số tiền 496.000.000 (bốn trăm chín mươi sáu triệu) đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 10/10/2024) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Buộc bà Trần Dạ T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 496.000.000 đồng là: {20.000.000 đồng + (96.000.000 đồng x 4%)} = 23.840.000 đồng, để sung quỹ Nhà nước. Trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim A số tiền tạm ứng án phí 12.320.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005919 ngày 19/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

3. Về kháng cáo, kháng nghị:

Ngày 24 tháng 10 năm 2024, bị đơn bà Trần Dạ T có đơn kháng cáo một phần bản án và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết sửa bản án sơ thẩm theo hướng bà T còn nợ bà A số tiền 300.000.000 đồng.

  • - Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A không kháng cáo.
  • - Bản án không bị kháng nghị.

4. Diễn biến tại phiên tòa:

  • - Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
  • - Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn thừa nhận còn nợ nguyên đơn số tiền gốc 405.000.00đ, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm và quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm, bị đơn nhiều lần có đơn tố cáo gửi Công an nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không chuyển hồ sơ qua Cơ quan cảnh sát điều tra là vi phạm tố tụng ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn.
  • - Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Dạ T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ pháp luật và thụ lý giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng.

Tại hồ sơ vụ án thể hiện: Giấy mượn tiền đề ngày 19/8/2023 (BL05) thể hiện số tiền vay là 350.000.000₫ với lãi suất 30%; giấy mượn tiền đề ngày 19/8/2023 (BL04) thể hiện vay 110.000.000₫ lãi suất thỏa thuận; giấy mượn tiền đề ngày 7/9/2023 thể hiện vay 100.000.000₫ lãi suất 3% (BL03). Bị đơn trình bày các giấy vay này là nợ lãi đã được cộng dồn thành nợ gốc.

Ngày 10/5/2024, Hội đồng xét xử sơ thẩm mở phiên tòa ban hành Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 19/2024/QĐST-DS ngày 10/5/2024 với lý do cần đợi kết quả của Cơ quan khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án. Quyết định của Hội đồng xét xử được biểu quyết tập thể có giá trị pháp lý và phải được thực hiện.

Xét thấy nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A và bị đơn bà Trần Dạ T nhiều lần gửi đơn tố cáo qua Công an huyện C thể hiện: Ngày 10/5/2024 Công an huyện C ban hành phiếu hướng dẫn số 1014/HD-CAH gửi bà Trần Dạ T có nội dung: “... Vụ án trên đang được TAND huyện Chư Pưh thụ lý, giải quyết trong hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm số 111/2023/TLST-DS ngày 19/12/2023.... Đề nghị chị Trần Dạ T liên hệ TAND huyện Chư Pưh để giải quyết”; Ngày 15/5/2024 Công an huyện C ban hành phiếu hướng dẫn số 1066/HD-CAH gửi bà Trần Thị Kim A1 có nội dung: “... Vụ án trên đang được TAND huyện Chư Pưh thụ lý, giải quyết trong hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm số 111/2023/TLST-DS ngày 19/12/2023.... Đề nghị bà Nguyễn Thị Kim A liên hệ TAND huyện Chư Pưh để giải quyết”. Đây là các phiếu hướng dẫn để đương sự biết và liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết, đây không phải là kết quả giải quyết sự việc theo nội dung tố cáo yêu cầu.

Điều 18 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định:

“Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội.

Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự thủ tục do bộ luật này quy định”.

Như vậy, trong khi giải quyết vụ án, nếu Tòa án thu thập chứng cứ mà nhận thấy có dấu hiệu tội phạm hình sự thì sẽ chủ động chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra có thẩm quyền xem xét. Trong vụ kiện này các đương sự đều có yêu cầu và có đơn tố cáo gửi cơ quan Công an và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ việc để chờ kết quả giải quyết của cơ quan khác.

Tuy nhiên, đến ngày 24/5/2024, Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa ban hành Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự số 113/2024/QĐST-DS ngày 24/5/2025 để tiếp tục giải quyết vụ dân sự với lý do là “Lý do tạm đình chỉ không còn”.

Ngày 22/7/2024 Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa ban hành công văn số 144/TLĐ về việc trả lời đơn của bà Trần Dạ T có nội dung: “Kết quả: .. Qua buổi đối chất thì hiện bà T không đưa ra được chứng cứ gì đề cho rằng việc bà Nguyễn Thị Kim A cho bà Trần Dạ T vay tiền là hành vi "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự"; bà A cho rằng 03 khoản vay trên hiện bà T chưa trả cho bà số tiền lãi nào. Vậy, TAND huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai không có cơ sở để chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Gia Lai”

Thấy rằng, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tạm ngừng phiên tòa, ra quyết định tạm đình chỉ để chờ kết quả giải quyết của cơ quan khác, tuy nhiên trong hồ sơ vụ kiện không có tài liệu nào khẳng định đã có kết quả giải quyết của cơ quan khác. Do vậy việc thẩm phán chủ tọa tiếp tục giải quyết vụ án sau đó ban hành công văn trả lời cho đương sự không có cơ sở chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C là chưa đảm bảo theo quy định pháp luật, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, gây tình trạng khiếu nại, tố cáo kéo dài. Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục, bổ sung được các vấn đề này.

Từ những phân tích trên, có căn cứ xác định kháng cáo của bị đơn về thủ tục tố tụng là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, chưa xem xét đánh giá đầy đủ chứng cứ và các yêu cầu của đương sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại.

Do bản án sơ thẩm bị hủy nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 308; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 3 điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban T1 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn bà Trần Dạ T.
  2. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 10/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.
  3. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai để giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
  4. Về án phí: Bà Trần Dạ T không phải chịu án phí phúc thẩm. Trả lại cho bà Trần Dạ T số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006150 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND huyện Chư Pưh;
  • - VKSND huyện Chư Pưh;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Chư Pưh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Toà DS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Lê Văn Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/DS-PT ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 27/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn bà Trần Dạ T. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 10/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger