|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 27/2024/TCDS-ST Ngày: 02 - 8 - 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Ninh và ông Trần Minh Nhân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Ngọc Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Phan Bảo Cường, Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 08/2024/TLST-TCDS ngày 30 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24 /2024/QĐXXST-DS ngày 04/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/QĐST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024, Thông báo hoãn phiên tòa số 800/TB-TA ngày 11 tháng 7 năm 2024 giữa, các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng N (A); địa chỉ: Số A T, khu đô thị M, huyện T, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức vụ: Tổng Giám đốc A.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Quang Đ, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Người đại diện theo ủy quyền lại: Bà Phạm Thị Khánh H, chức vụ: Giám đốc A Chi nhánh huyện Q - Phòng G (Theo Quyết định số 22/QĐ-NHNoQN ngày 01/02/2024 về việc ủy quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án. Bà H có mặt.
2. Bị đơn: - Anh Lê Văn Đ1, sinh năm 1988;
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.
Địa chỉ tạm trú: Khu phố E (H), phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, anh Đ1 vắng mặt lần thứ ba.
- Chị Trương Ngọc Bích T, sinh năm 1993;
Địa chỉ thường trú: 88/41 bà Huyện T, phường I, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh,
Địa chỉ liên hệ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, chị T vắng mặt lần thứ ba.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 19/01/2024, bản tự khai và quá trình giải quyết, xét xử vụ án, đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn Ngân hàng N (gọi tắt là A) - bà Phạm Thị Khánh H trình bày:
Ngày 25/5/2023, anh Lê Văn Đ1 và chị Trương Ngọc Bích T đã ký với A Chi nhánh huyện Q hợp đồng tín dụng số 3803-LAV-202300957 để vay số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng chẵn), thời hạn cho vay 36 tháng, kể từ ngày ký 25/5/2023, mục đích sử dụng vốn vay: Thanh toán các chi phí hoạt động kinh doanh, phục vụ đời sống, bù đắp tài chính đối với các khoản vốn đã sử dụng và các chi phí khác theo phương án sử dụng vốn của khách hàng, lãi suất cho vay 11,5%/năm. Phân kỳ trả nợ 03 kỳ, vào ngày 25/5/2024 trả 30.000.000 đồng, vào ngày 25/5/2025 trả 30.000.000 đồng, vào ngày 25/5/2026 trả 40.000.000 đồng, kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 30/6/2023.
Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, anh Lê Văn Đ1 và chị Trương Ngọc Bích T đã sử dụng tài sản tại hợp đồng thế chấp sau: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 178/2023/HĐTC ngày 25/5/2023 giữa Ngân hàng N - Chi nhánh huyện Q - Phòng G (Bên nhận thế chấp) với anh Lê Văn Đ1, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất cùng toàn bộ thiết bị, tài sản gắn liền với đất là nhà ở, vật kiến trúc và các tài sản khác đã hình thành trước và sau thời điểm thế chấp nhưng chưa được chứng nhận quyền sở hữu thuộc thửa đất số 215; tờ bản đồ số 3 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: số BP 642697, có diện tích 656m² (trong đó đất ở tại nông thôn 200m², đất trồng cây hàng năm khác 456m²), do Ủy ban nhân dân huyện Q cấp ngày 31/12/2013 đứng tên Lê Văn Đ1, vị trí lô đất thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Hợp đồng thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định.
Trong quá trình quan hệ tín dụng với A Chi nhánh huyện Q, Quảng Bình - Phòng G, anh Lê Văn Đ1 và chị Trương Ngọc Bích T đã không thực hiện đúng các thỏa thuận, cam kết tại hợp đồng tín dụng đã ký với A Chi nhánh huyện Q, Quảng Bình - Phòng G và để số tiền vay chuyển sang nợ quá hạn (từ ngày 15/11/2023 theo kết quả phân loại nợ của Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia Ngân hàng N1, khách hàng có nợ quá hạn nợ nhóm 2 tại Công ty T1); để phát sinh nợ lãi từ ngày 31/12/2023. A Chi nhánh huyện Q, Quảng Bình - Phòng G đã nhiều lần thông báo đòi nợ gửi đến anh Lê Văn Đ1 và chị Trương Ngọc Bích T, tạo điều kiện cho anh, chị có thời gian trả nợ nhưng vẫn không thực hiện. Sau khi Ngân hàng khởi kiện, ngày 22/3/2024, anh Đ1 đã trả tiền gốc 25.000.000 đồng, tiền lãi 3.166.438 đồng. Tổng dư nợ tính đến hết ngày 02/8/2024, anh Đ1, chị T còn nợ là 78.005.799 đồng, trong đó nợ gốc 75.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.951.450 đồng, nợ lãi quá hạn 54.349 đồng.
Để bảo đảm việc thu hồi nợ vay cho Nhà nước, Ngân hàng N, Chi nhánh huyện Q, Quảng Bình - Phòng G đề nghị Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh xét xử buộc anh Lê Văn Đ1 và chị Trương Ngọc Bích T thanh toán ngay cho A Chi nhánh huyện Q, Quảng Bình - Phòng G số tiền 78.005.799 đồng, trong đó nợ gốc 75.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.951.450 đồng, nợ lãi quá hạn 54.349 đồng và số tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký giữa A chi nhánh huyện Q, Quảng Bình - Phòng G với anh Lê Văn Đ1 và chị Trương Ngọc Bích T, cho đến ngày anh Đ1, chị T trả nợ xong cho A Chi nhánh huyện Quảng Ninh, Quảng Bình - Phòng G.
Trường hợp anh Lê Văn Đ1 và chị Trương Ngọc B T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho A Chi nhánh huyện Q, Quảng Bình - Phòng G đề nghị Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tuyên xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay gồm: Quyền sử dụng đất cùng toàn bộ thiết bị, tài sản gắn liền với đất là nhà ở, vật kiến
trúc và các tài sản khác đã hình thành trước và sau thời điểm thế chấp nhưng chưa được chứng nhận quyền sở hữu thuộc thửa đất số 215; tờ bản đồ số 3 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: số BP 642697, có diện tích 656m² (trong đó đất ở tại nông thôn 200m², đất trồng cây hàng năm khác 456m²), do Ủy ban nhân dân huyện Q cấp ngày 31/12/2013 đứng tên anh Lê văn Đ2, vị trí lô đất thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.
Bị đơn anh Lê Văn Đ1 và chị Trương Ngọc Bích T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Ngày 05/4/2024, Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh đã tiến hành xác minh, Công an xã H cung cấp: Anh Lê Văn Đ1, sinh năm 1988, có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, địa chỉ tạm trú tại: Khu phố E (H), phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Chị Trương Ngọc Bích T, sinh năm 1993; địa chỉ thường trú: 88/41 bà Huyện T, phường I, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 05 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh đã ra Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ gửi cho Tòa án nhân dân Quận 3 và Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, kết quả xác minh của Tòa án Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện anh Đ1 thực tế có cư trú tại phường T, Quận A nhưng chưa đăng ký tạm trú; các Tòa án đã gửi kết quả niêm yết.
Theo yêu cầu của nguyên đơn, ngày 05 tháng 4 năm 2024, Hội đồng thẩm định tiến hành thẩm định tài sản của anh Lê Văn Đ1 thế chấp gồm:
- Về đất: Thửa đất số 215, tờ bản đồ số 3, vị trí thửa đất: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: số BP 642697, có diện tích 656m² (trong đó đất ở tại nông thôn 200m², đất trồng cây hàng năm khác 456m²), do Ủy ban nhân dân huyện Q cấp ngày 31/12/2013 đứng tên anh Lê Văn Đ1, vị trí lô đất thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nay là thửa đất số 451, tờ bản đồ số 3 có diện tích theo hiện trạng 708,0m², có tứ cạnh:
Phía Bắc giáp với thửa đất 430 (từ điểm 1 đến điểm 2) có kích thước 14,96m; phía Đông giáp với thửa đất 450 và đường giao thông (từ điểm 2 đến điểm 4) có kích thước 42,22m; Phía Nam giáp với thửa đất 475 (từ điểm 4 đến điểm 6) có kích thước 15,95m; phía Tây giáp với thửa đất 474 và thửa 452 (từ điểm 6 đến điểm 1) có kích thước 45,13m.
- Về tài sản gắn liền với thửa đất 215, có: 01 ngôi nhà cấp 4 tường xây lợp mái ngói, diện tích 87m²; đất không tranh chấp với ai, trên đất không có tài sản của người khác.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh phát biểu quan điểm:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng, do một bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phát sinh tranh chấp, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, đề nghị HĐXX xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về người tham gia tố tụng: Tòa án xác định đúng người tham gia tố tụng; việc xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai
của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các điều 318, 319, 325, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc anh Lê Văn Đ1 và chị Trương Ngọc B T có trách nhiệm trả cho A số tiền 78.005.799 đồng, trong đó nợ gốc 75.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.951.450 đồng, nợ lãi quá hạn 54.349 đồng và số tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký. Trường hợp anh Lê Văn Đ1 và chị Trương Ngọc B T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho A đề nghị Tòa án tuyên xử lý toàn bộ tài sản thế chấp đã được công chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngân hàng N khởi kiện bị đơn anh Lê Văn Đ1, chị Trương Ngọc Bích T yêu cầu thanh toán tiền vay do vi phạm nghĩa vụ trả nợ; tại thời điểm ký kết hợp đồng bị đơn anh Lê Văn Đ1 có nơi cư trú tại thôn T, xã H, huyện Q. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập và Quyết định hoãn phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật nhưng anh Lê Văn Đ1 và chị Trương Ngọc Bích T vắng mặt không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Lê Văn Đ1, chị Trương Ngọc Bích T.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét theo nội dung hợp đồng tín dụng vay tiền, yêu cầu trả nợ của Ngân hàng N (A): Ngày 25/5/2023, anh Lê Văn Đ1 và chị Trương Ngọc Bích T đã ký với A Chi nhánh huyện Q, Quảng Bình - Phòng G hợp đồng tín dụng số 3803-LAV-202300957 để vay số tiền cho 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng chẵn), thời hạn cho vay 36 tháng, kể từ ngày ký 25/5/2023, mục đích sử dụng vốn vay: Thanh toán các chi phí hoạt động kinh doanh, phục vụ đời sống, bù đắp tài chính đối với các khoản vốn đã sử dụng và các chi phí khác theo phương án sử dụng vốn của khách hàng, lãi suất cho vay 11,5%/năm. Phân kỳ trả nợ 03 kỳ, vào ngày 25/5/2024 trả 30.000.000 đồng, vào ngày 25/5/2025 trả 30.000.000 đồng, vào ngày 25/5/2026 trả 40.000.000 đồng, kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 30/6/2023. Theo kết quả phân loại nợ của Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia Ngân hàng N1, khách hàng có nợ quá hạn (nợ nhóm 2) tại Công ty T1 từ ngày 15/11/2023, nên số nợ của anh Đ1, chị T chuyển sang nợ quá hạn; đến kỳ hạn trả nợ lãi 31/12/2023 anh Đ1, chị T không trả nợ lãi, A - Chi nhánh huyện Q, Quảng Bình - Phòng G đã nhiều lần thông báo nợ quá hạn, vi phạm hợp đồng, xử lý tài sản đảm bảo, đôn đốc, kiểm tra, yêu cầu anh Đ1, chị T trả nợ, nhưng anh Đ1, chị T vẫn không thực hiện nghĩa
vụ trả nợ; sau khi Ngân hàng khởi kiện, ngày 22/3/2024 anh Lê Văn Đ1 đã trả tiền gốc 25.000.000 đồng và tiền lãi 3.166.438 đồng. Do anh Đ1, chị T quá hạn trên hệ thống, quá hạn trả nợ lãi vào ngày 31/12/2023, quá hạn trả nợ gốc 5.000.000 đồng vào kỳ trả nợ gốc ngày 25/5/2024 nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả toàn bộ số nợ gốc và lãi. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, anh Đ1, chị T còn nợ A Chi nhánh huyện Quảng Ninh, Quảng Bình - Phòng G tổng số tiền 78.005.799 đồng, trong đó nợ gốc 75.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.951.450 đồng, nợ lãi quá hạn 54.349 đồng.
Xét hợp đồng vay vốn giữa nguyên đơn với bị đơn được giao kết hợp pháp nên phát sinh hiệu lực, các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng, đầy đủ các điều khoản đã cam kết. Nhưng vì bị đơn vi phạm nghĩa vụ của bên vay nên việc khởi kiện và yêu cầu bị đơn phải trả nợ cho nguyên đơn là có căn cứ theo quy định tại các điều 463, 466 của Bộ luật dân sự và theo thỏa thuận Điều 5 của Hợp đồng tín dụng số 3803-LAV-202300957.
[2.2] Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 3803-LAV-202300957 ngày 25/5/2023 mà hai bên đã ký kết, nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận lãi suất của hợp đồng vay 11,5%/năm. Thỏa thuận lãi suất này không vượt quá và đúng quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết. Hội đồng xét thấy rằng, sau khi vay tiền cho đến ngày 31/12/2023 anh Đ1, chị T không trả nợ lãi cho A Chi nhánh huyện Quảng Ninh, Quảng Bình - Phòng G là vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn tại hợp đồng đã ký kết giữa các bên. Sau kỳ hạn trả nợ lãi, anh Đ1, chị T không thanh toán nợ cho A nên A Chi nhánh huyện Q, Quảng Bình - Phòng G chuyển thành nợ quá hạn và tính lãi suất theo mức lãi suất nợ quá hạn là phù hợp với quy định tại Điều 5 của Hợp đồng tín dụng, Điều 468 của Bộ luật dân sự và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng. Như vậy, yêu cầu của Nguyên đơn về tiền lãi là có căn cứ nên cần được xem xét chấp nhận, buộc anh Đ1, chị T phải trả cho A số tiền lãi 3.005.799 đồng, trong đó lãi trong hạn 2.951.450, lãi quá hạn 54.349 đồng.
[2.3] Về yêu cầu của A Chi nhánh huyện Q, Quảng Bình - Phòng G trong trường hợp anh Lê Văn Đ1 và chị Trương Ngọc B Trâm không trả được số nợ trên thì đề nghị Tòa án tuyên xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ. Hội đồng xét xử nhận thấy, khi vay tiền để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng vay vốn, giữa A với anh Lê Văn Đ1 có ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 178/2023/HĐTC ngày 25/5/2023 giữa A Chi nhánh huyện Q, Quảng Bình - Phòng G với anh Lê Văn Đ1, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất cùng toàn bộ thiết bị, tài sản gắn liền với đất là nhà ở, vật kiến trúc và các tài sản khác đã hình thành trước và sau thời điểm thế chấp nhưng chưa được chứng nhận quyền sở hữu thuộc thửa đất số 215; tờ bản đồ số 3 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: số BP 642697, có diện tích 656m² (trong đó đất ở tại nông thôn 200m², đất trồng cây hàng năm khác 456m²), do Ủy ban nhân dân huyện Q cấp ngày 31/12/2013 đứng tên anh Lê Văn Đ1, vị trí lô đất thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, hiện nay theo bản đồ chính quy là thửa đất số 451, tờ bản đồ số 3. Theo yêu cầu của Nguyên đơn, Hội đồng thẩm định đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ diện tích đất thực tế sử dụng 708,0m² lớn hơn so với diện tích trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 52,0m²; tài sản gắn liền trên đất 01 ngôi nhà cấp 4 tường xây lợp mái ngói, diện tích 87m²; đất không tranh chấp với ai, trên đất không có tài sản của người khác. Căn cứ vào các điều 318, 319, 325 của Bộ luật dân sự; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 8 của Hợp đồng tín dụng số 3803-LAV-202300957; Điều 6, Điều 8 của Hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất số 178/2023/HĐTC ngày 25/5/2023, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của A.
[3] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị định 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc anh Đ1, chị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Về chi phí tố tụng: Ngân hàng N đã nộp 5.000.000 đồng; đã chi phí hết 3.200.000 đồng. Cần buộc anh Lê Văn Đ1 và chị Trương Ngọc Bích T phải chịu 3.200.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ để trả lại cho Ngân hàng Nông nghiệp theo quy định tại Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 773 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 318, 319, 325, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 91 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N. Buộc anh Lê Văn Đ1 và chị Trương Ngọc Bích T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N tổng số tiền 78.005.799 đồng, trong đó nợ gốc 75.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.951.450 đồng, nợ lãi quá hạn 54.349 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong các hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Trong trường hợp anh Lê Văn Đ1 và chị Trương Ngọc Bích T không trả nợ hoặc trả nợ không đủ cho Ngân hàng N thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 178/2023/HĐTC ngày 25/5/2023 giữa Ngân hàng N - Chi nhánh huyện Q, Quảng Bình - Phòng G với anh Lê Văn Đ1, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất cùng toàn bộ thiết bị, tài sản gắn liền với đất là nhà ở, vật kiến trúc và các tài sản khác đã hình thành trước và sau thời điểm thế chấp nhưng chưa được chứng nhận quyền sở hữu thuộc thửa đất số 215; tờ bản đồ số 3 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: số BP 642697, có diện tích 656m² (trong đó đất ở tại nông thôn 200m², đất trồng cây hàng năm khác 456m²), do Ủy ban nhân dân huyện Q cấp ngày 31/12/2013 đứng tên anh Lê
Văn Đ1, vị trí lô đất thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, hiện nay theo bản đồ chính quy là thửa đất số 451, tờ bản đồ số 3.
3. Về chi phí tố tụng: Buộc anh Lê Văn Đ1 và chị Trương Ngọc Bích T phải nộp 3.200.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ để trả lại cho Ngân hàng N.
4. Về án phí sơ thẩm: Buộc anh Lê Văn Đ1 và chị Trương Ngọc Bích T phải nộp 3.900.289 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng N được nhận lại 2.587.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003770 ngày 30/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhàn |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
8
Bản án số 27/2024/TCDS-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 27/2024/TCDS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án xét xử vụ án TCHĐTD giữa Ngân hàng No và anh Lê Văn Đ, chị Trương Ngọc Bích T
