TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2024/HSST Ngày: 30/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Bùi Đình Thông
Các Hội thẩm nhân dân: 1, Ông Lê Như Long
2, Ông Phạm Hồng Chương
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồng Na – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Đậu Thị Hiền Trang - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh H xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Đoàn Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 23 tháng 4 năm 1996; Trú tại: Thôn S, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 05/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đoàn Văn C; Con bà: Lê Thị M (Đã chết); Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Có 02 tiền án: Ngày 27/11/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 12/9/2019, chấp hành xong hình phạt (chưa được xóa án tích). Ngày 30/9/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xác định “Tái phạm” xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 03/12/2022, chấp hành xong hình phạt (chưa được xóa án tích). Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Văn S, sinh năm: 1999; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt).
- Anh Phạm Đình K, sinh năm: 1983; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn P, xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (có mặt).
- Ông Đoàn Văn C, sinh năm: 1970; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm: 1994; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm: 1979; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn P, xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt).
- Chị Lê Thị H1, sinh năm: 1984; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn P, xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt).
Cán bộ chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ tại điểm cầu thành phần trại tạm giam công an tỉnh H gồm:
- Đồng chí: Đại úy: Bùi Xuân Đ, tổ trưởng, tổ dẫn giải.
- Đồng chí: Hạ sỹ: Nguyễn Phan Tiến P, tổ viên.
- Đồng chí: Hạ sỹ Nguyễn Văn T1, tổ viên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu tháng 6/2024, Đoàn Văn H đi chơi tại khu vực bến xe V ở thành phố V, tỉnh Nghệ An thì gặp một người đàn ông mà Đoàn Văn H khai tên là D (không biết địa chỉ). Hứa hỏi mua ma túy thì được người này bán cho 03 viên ma túy với giá 240.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H đi về nhà, lấy 01 viên ma túy ra sử dụng, còn 02 viên ma túy Hứa cất giấu dưới gầm giường trong phòng ngủ của mình để bán lại kiếm lời.
Cũng trong tháng 6/2024, H gọi điện cho một người đàn ông mà H khai tên là V (không biết địa chỉ, số điện thoại do H xin từ trước) hỏi mua ma túy để bán lại kiếm lời, thì người này đồng ý bán cho H 08 viên ma túy và 01 gói ma túy đá, với giá 1.400.000 đồng, rồi hẹn Hứa đến cầu Y thuộc xã L, huyện H, tỉnh Nghệ An để lấy ma túy. Sau khi mua được ma túy, H đưa về cất giấu tại khu vực cổng nhà mình ở thôn S, xã T, huyện Đ. Đến ngày 24/6/2024, Hứa bán số ma túy trên cho Phạm Đình K và Phạm Văn S, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/6/2024, do có nhu cầu mua ma túy sử dụng nên K dùng điện thoại của vợ gọi cho H nói: Bán cho 500.000 đồng hồng phiến, H nói: 500.000 đồng không bán, 1.000.000 đồng 08 viên, có mua thì lấy, Khai đồng ý. Sau đó, Hứa gửi thông tin tài khoản số 9335672504 ngân hàng V1 chủ tài khoản là ông Đoàn Văn C là bố đẻ của H cho K chuyển tiền mua ma túy. Sau khi nhận được tin nhắn H gửi, K đi đến cửa hàng tạp hóa của chị Nguyễn Thị M1 ở trú tại thôn P, xã B, huyện Đ nhờ chị M1 chuyển 1.000.000 đồng vào số tài khoản mà H cung cấp, rồi thông báo cho H biết. Sau khi nhận được tiền, H lấy 01 túi nilong, bên trong có 08 viên ma túy đã mua trước đó, gói lại bằng giấy vệ sinh và đưa ra để bên lề đường ở ngã tư cách nhà H khoảng 50m rồi gọi điện thoại cho K nói: Có ma túy rồi, bạn lên đi. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, K điều khiển xe mô tô của vợ đi đến xã T, huyện Đ thì được H chỉ chỗ lấy ma túy, rồi Khai đi về nhà. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, K đưa số ma túy nói trên đến khu vực nghĩa trang thôn T, xã L, huyện Đ để sử dụng. Khi vừa sử dụng hết số ma túy trên thì bị Cơ quan Công an huyện Đ phát hiện, bắt giữ. Thu giữ từ Khai 01 chai nhựa trong suốt ở giữa thân chai có gắn tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, cuộn tròn; 01 bật lửa gas màu đỏ đã qua sử dụng và 01 túi nilong màu xám.
Lần thứ hai: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 24/6/2024, do có nhu cầu mua ma túy sử dụng, Phạm Văn S đăng nhập tài khoản Zalo đăng ký số điện thoại 844322526 của mình gọi vào tài khoản Zalo đăng ký số điện thoại 0335.672.xxx của H nói: Có ma túy hồng phiến bán không, thì H nói: Hết ma túy hồng phiến rồi chỉ còn ma túy đá nữa. S nói: Ma túy đá cũng được, thì H nói: Chuyển khoản rồi chỉ chỗ để ma túy cho, S đồng ý. Sau đó, S đi đến cửa hàng Internet của anh Nguyễn Quốc T, trú tại thôn Q, xã T, huyện Đ nhờ anh T chuyển 680.000 đồng vào số tài khoản 9335672504 ngân hàng V1 mang tên Đoàn Văn C - bố đẻ của H (tài khoản ngân hàng S biết từ trước do có quen biết với H). Sau khi nhận được tiền, H lấy gói ma túy cất giấu ở cổng nhà bỏ vào vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, màu vàng giấu trong người, rồi đi bộ ra đường đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết đến khu vực Bệnh viện đa khoa huyện Đ thuộc tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện Đ. Hứa xuống xe đi đến gốc cây xà cừ bên đường để vỏ bao thuốc lá Thăng Long chứa ma túy ở đó, rồi gọi điện cho S nói: Chạy xuống bệnh viện Đ. S thuê xe taxi của một người đàn ông không quen biết đến khu vực Bệnh viện Đ, thì được H hướng dẫn đến gốc cây xà cừ nói trên để lấy ma túy. Sau khi lấy được ma túy, S kiểm tra thì thấy bên trong vỏ bao thuốc lá T3 có túi nilon chứa ma túy đá, nên S cất vào túi quần, rồi đi vào khu vực nghĩa trang B thuộc tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh để sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, khi S vừa sử dụng hết số ma túy nói trên thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phát hiện, bắt giữ. Thu giữ từ S 01 chai nhựa trong suốt ở giữa thân chai có gắn tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng cuộn tròn; 01 bật lửa gas màu đỏ đã qua sử dụng; 01 túi nilong trong suốt màu trắng; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Đình K và Phạm Văn S đều khai nhận số ma túy vừa sử dụng là mua của Đoàn Văn H.
Đến 18 giờ 30 phút ngày 27/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp, khám xét khẩn cấp chỗ ở của H tại thôn S, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Quá trình giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan điều tra thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A17, màu xám, sim số 0335672504. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của H, Cơ quan điều tra thu giữ 01 túi nilon màu trắng kích thước (2x1)cm, bên trong chứa 02 viên nén màu hồng; 01 bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng; 01 túi nilon màu trắng, kích thước (5x3)cm, một đầu có dấu vết bị lửa đốt; 02 túi nilon màu trắng, kích thước (1x1)cm; 02 túi nilon màu trắng, kích thước (8x4)cm; 01 túi nilon màu hồng, kích thước (10x6)cm, bên ngoài có ký hiệu chữ A và 01 chai nhựa, màu trắng, không có nắp chai, chiều cao 20cm, ở giữa thân chai có một lỗ tự chế.
Tại bản Kết luận giám định ma túy số 890/KL-KTHS ngày 29/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: 02 viên nén màu hồng đựng trong 01 túi nilon màu trắng, có kích thước (2x1)cm, thu giữ của Hứa gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1827gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II.C, STT 247 ban hành kèm theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Số ma túy nói trên, Đoàn Văn H khai nhận mua về để bán cho người khác kiếm lời.
Tại các phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Công an xã L ngày 24/6/2024 đối với Khai, xác định kết quả: Tại các kit test MET, sau khi cho vào mẫu vào có kết quả hiển thị 01 vạch, kết luận: Dương tính.
Tại các phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Công an thị trấn Đ ngày 24/6/2024 đối với S, xác định kết quả: Tại các kit test MET và KET sau khi cho vào mẫu vào có kết quả hiển thị 01 vạch, kết luận: Dương tính.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng;
- 01 túi nilon màu trắng kích thước (2x1)cm, bên trong chứa 0,1827gam Methamphetamine (đã lấy 0,0900 gam để giám định, còn lại 0,0927 gam được cho vào 01 túi ni lông trong suốt cùng toàn bộ các vỏ gói ban đầu được cho vào phong bì thư màu trắng có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH, PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” dán kín, niêm phong).
- 01 bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 tờ tiền VNĐ đang lưu hành, mệnh giá 5.000 đồng; 01 túi nilon màu trắng, kích thước (5x3)cm, một đầu có dấu vết bị lửa đốt; 02 túi nilon màu trắng, kích thước (1x1)cm; 02 túi nilon màu trắng, kích thước (8x4)cm; 01 túi nilon màu hồng, kích thước (10x6)cm, bên ngoài có ký hiệu chữ A; 01 chai nhựa, màu trắng, không có nắp chai, cao 20cm, ở giữa thân chai có một lỗ tự chế. (Đều thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của H).
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17, màu xám, sim số 0335672504 (Thu giữ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với H).
- 01 chai nhựa trong suốt ở giữa thân chai có gắn tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng; 01 bật lửa gas màu đỏ đã qua sử dụng; 01 túi nilong trong suốt màu trắng; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng (Thu giữ tại người liên quan Phạm Văn S).
- 01chai nhựa trong suốt ở giữa thân chai có gắn tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng; 01 bật lửa gas màu đỏ đã qua sử dụng và 01 túi nilong màu xám (Thu giữ tại người liên quan Phạm Đình K).
Quá trình điều tra xác định, chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A17, màu xám, sim số 0335672504 là của ông Đoàn Văn C cho Đoàn Văn H mượn sử dụng. Việc Đoàn Văn H sử dụng chiếc điện thoại làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, ông Đoàn Văn C không biết. Còn các vật chứng khác đã thu giữ là những công cụ, phương tiện bị cáo, người liên quan sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Các vật chứng nói trên hiện đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Thọ để xử lý theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số: 28/CT-VKS-ĐT ngày 12 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ đã truy tố Đoàn Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát viên vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đoàn Văn H từ 08 đến 09 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam 27/6/2024. Đề nghị truy thu số tiền thu lợi bất chính do bán ma túy mà có từ bị cáo, xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì tranh luận, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Hà tĩnh; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức thọ, tỉnh Hà tĩnh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng và hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận về hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu và thừa nhận trong quá trình hỏi cung đều được tự nguyện khai báo, không bị bức cung, mớm cung hay nhục hình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, các lời khai và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Trong khoảng thời gian từ 13 giờ 30 phút đến 14 giờ ngày 24/6/2024, tại thôn S, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh và tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, Đoàn Văn H đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Phạm Đình K và Phạm Văn S. T2 lợi bất chính số tiền 1.680.000 đồng. Đến 18 giờ 30 phút ngày 27/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đoàn Văn H ở thôn S, xã T, huyện Đ, thu giữ 0,1827gam ma túy, loại Methamphetamine mà Đoàn Văn H tàng trữ nhằm mục đích bán cho người khác.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các chứng cứ, lời khai thu thập được đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, kết hợp với lời khai nhận tội của bị cáo Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Đoàn Văn H đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho Phạm Đình K và Phạm Văn S, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 2, điều 251 Bộ luật hình sự. Vào ngày 27/11/2018, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ngày 12/9/2019, chấp hành xong hình phạt tù chưa được xóa án tích, ngày 30/9/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xác định “Tái phạm” xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 03/12/2022, chấp hành xong hình phạt tù chưa được xóa án tích. Như vậy, theo quy định tại điểm b, khoản 2, điều 53 Bộ luật hình sự thì lần phạm tội này của bị cáo được xác định là “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm q, khoản 2, điều 251 Bộ luật hình sự. Vì vậy, việc truy tố và xét xử bị cáo theo điểm, khoản, tội danh và điều luật nêu trên là đúng người đúng tội, không oan sai. Bản cáo trạng số 28/CT-VKS-ĐT ngày 12 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn chính xác. Tại phiên tòa lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá đầy đủ tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo cũng như các vấn đề khác về cơ bản là phù hợp.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ma tuý là một độc dược, làm huỷ hoại sức khoẻ, thoái hoá nhân cách, ảnh hưởng đến giống nòi, ma tuý còn là nơi bắt nguồn cho các loại tội phạm khác nên pháp luật đã nghiêm cấm tàng trữ, vận chuyển, mua bán, tệ nạn ma túy đang là điều nhức nhối của toàn xã hội, nhà nước ta đã có rất nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn và xóa bỏ ma túy ra khỏi cộng đồng. Hành vi mua bán ma túy của bị cáo là hành vi góp phần làm cho tệ nạn xã hội ngày càng phát triển. Bản thân bị cáo đã hai lần bị xét xử, nhưng vẫn không chịu lấy đó làm những bài học cảnh tỉnh bản thân, tu chí làm ăn chân chính mà lại thực hiện việc mua bán ma túy. Mặc dù biết được việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi nên bị cáo đã bất chấp pháp luật, mua bán ma túy. Vì vậy, cần phải xử phạt thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và ngăn chặn, phòng ngừa chung. Bị cáo hiện đang bị tạm giam, để đảm bảo cho công tác thi hành án cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo.
[5] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Vì vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội thành khẩn khai báo, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo có trình bày là mẹ đẻ của bị cáo bị nhiểm chất độc da cam nhưng bị cáo cũng không xuất trình được chứng cứ gì để chứng minh. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình điều tra, hỏi cung của Cơ quan điều tra, phúc cung của Viện kiểm sát cũng đã hỏi về nhân thân nhưng bị cáo cũng không trình bày gì về vấn đề này. Mặt khác, mẹ bị cáo sinh năm 1973 nên việc nhiểm chất độc da cam trong chiến tranh là khó. Vì vậy, xét không đủ cơ sở xem xét để áp dụng khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.
Tội phạm ma túy là một loại tội phạm hết sức nguy hiểm. Hội đồng xét xử xét thấy lẽ ra ngoài hình phạt chính cần xử phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không xử phạt tiền đối với bị cáo.
Trong vụ án này, Phạm Đình K và Phạm Văn S là những người mua ma túy của Đoàn Văn H để sử dụng. Tuy nhiên, tại thời điểm Cơ quan CSĐT phát hiện, bắt giữ thì K và S đã sử dụng hết số ma túy đã mua nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với K và S về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với K và S theo quy định là có căn cứ.
Đối với ông Đoàn Văn C là chủ sở hữa số tài khoản 9335672504 ngân hàng V1; chiếc điện thoại Oppo A17, màu xám, sim số 0335672504 và là chủ nhà ở tại thôn S, xã T, huyện Đ, nhưng ông C không biết H sử dụng số điện thoại và số tài khoản ngân hàng của mình để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, không biết H mua ma túy về cất dấu trong nhà của mình để bán kiếm lời nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Chị Nguyễn Thị M1, anh Nguyễn Quốc T là những người mà Khai, S đã nhờ chuyển tiền cho H, nhưng chị M1, anh T đều không biết K, S chuyển tiền để mua ma túy, nên đều không có căn cứ xử lý trách nhiệm đối với chị Nguyễn Thị M1, anh Nguyễn Quốc T.
Chị Lê Thị Hồng v của K và là chủ sở hữu chiếc điện thoại Oppo A92 màu xanh, sim số 0975985335 và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Atila, màu đen, biểm kiểm soát 38V1-36474 mà Khai sử dụng làm công cụ, phương tiện đi mua ma túy, nhưng chị H1 cũng không biết, nên cũng không xem xét xử lý trách nhiệm đối với chị Lê Thị H1 và thu giữ các tài sản này.
Đối với người đàn ông tên V và người đàn ông tên D mà Đoàn Văn H khai là những người đã bán ma túy cho mình, do còn thiếu thông tin, nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ điều tra, xử lý.
[6] Về vật chứng vụ án: Cần áp dụng các quy định của pháp luật xử lý số vật chứng đang có tại cơ quan thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh đúng theo quy định của pháp luật. Cụ thể: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A17, màu xám, sim số 0335672504 là của ông Đoàn Văn C cho bị cáo mượn sử dụng. Việc bị cáo sử dụng chiếc điện thoại làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, ông C không biết. Vì vậy, cần trả lại chiếc điện thoại này cho ông Đoàn Văn C. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 03 tờ tiền (01 tờ 5000đ và 02 tờ 2000đ) mà bị cáo, người liên quan sử dụng làm công cụ phạm tội (quấn vào chai nước để sử dụng ma túy). Các vật chứng còn lại là những công cụ, phương tiện bị cáo, người liên quan sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Xét không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Trong vụ án này, bị cáo còn thu lợi bất chính 1.680.000 đồng tiền bán ma túy cho Phạm Đình K và Phạm Văn S, vì vậy cần áp dụng các quy định của pháp luật, truy thu số tiền này từ bị cáo để sung công quỹ Nhà nước.
[7] Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt:
Bị cáo Đoàn Văn H 08 năm 06 tháng tù. Thời gian thi hành án tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam 27/6/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo công tác thi hành án. - Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 9.000 đồng (01 tờ 5.000đ và 02 tờ 2.000đ); Trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A17, màu xám, sim số 0335672504 cho ông Đoàn Văn C; Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì, màu trắng, trên bề mặt có dòng chữ "CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH, PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ", đã được niêm phong, có chữ ký của các thành phần tham gia và dán kín các mép. Bên trong có 01 (một) túi nilon trong suốt đựng 01 (một) viên nén màu hồng; 03 (ba) chiếc bật lửa gas màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) túi nilon, màu trắng, có kích thước 05×03 cm, một đầu có dấu vết bị lửa đốt; 02 (hai) túi nilon, màu trắng, có kích thước 01x01 cm; 02 (hai) túi nilon, màu trắng, có kích thước 08x04 cm; 01 (một) túi nilon, màu hồng, có kích thước 10x06 cm, bên ngoài có ký hiệu chữ A; 01 (một) chai nhựa, màu trắng, không có nắp chai, có chiều cao 20 cm, ở giữa thân chai có 01 (một) lỗ tự chế; 02 (hai) chai nhựa trong suốt; 01 (một) túi nilon màu xám, không rõ kích thước, hình dạng; 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước 03x04 cm, có dấu vết bật lửa hơ ở mép; 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long, màu vàng, kích thước 5x7 cm.
Tình trạng đặc điểm cụ thể của các vật chứng có trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/8/2024 giữa Cơ quan điều tra và chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Thọ, tỉnh Hà tĩnh.
Truy thu sung công quỹ Nhà nước từ bị cáo 1.680.000 đồng. - Về án phí: Căn cứ điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo bản án: Căn cứ các Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Đình Thông |
Bản án số 27/2024/HSST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 27/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đoàn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
