|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2024/HSST
Ngày: 16 – 7 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Xuân Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Thành Quý
- 2. Bà Trần Thị Toàn
- Thư ký phiên tòa: Lê Thị Cẩm Thạch, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Phiệt, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2004, tại trụ sở UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/HSST ngày 30 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/XXHSST – HS, ngày 02/7/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hoàng Xuân N; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam
Sinh ngày 23 tháng 3 năm 2003, tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi thường trú: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ở hiện tại: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; chức vụ, cấp bậc: Không; con ông: Nguyễn Xuân H; con bà: Nguyễn Thị Hồng Q; mẹ kế: Dương Thị Q1; vợ, con: Chưa có; tiền án: Ngày 24/08/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 17/09/2020, bị Công an huyện K ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”; biện pháp ngăn chặn: Bị cáo Nguyễn Hoàng Xuân N đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam”, từ ngày 22/3/2024 đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
Bị hại:
Bà Hoàng Thị T – sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Phạm Công A – sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
- - Bà Nguyễn Thị D – sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
- - Bà Bùi Thị N1 – sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 07/03/2024, Nguyễn Hoàng Xuân N (sinh năm 2003, trú tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh) cùng mẹ kế là chị Dương Thị Q1 (sinh năm 1983, trú tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh) đến nhà bác của Nghĩa là chị Hoàng Thị T (sinh năm 1980, trú tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh) để tổ chức ăn uống nhân ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3. Sau khi ăn uống xong, mọi người ra về còn Nguyễn Hoàng Xuân N ở lại nhà chị Hoàng Thị T chơi. Trong quá trình ở lại nhà chị Hoàng Thị T, N quan sát thấy chiếc máy tính bảng, nhãn hiệu Ipad Air 2 của chị T đang đặt trên két sắt tại phòng ngủ, N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, lợi dụng việc chị Hoàng Thị T đang dạy con gái học bài ở phòng khác, Nguyễn Hoàng Xuân N đã lấy trộm chiếc máy tính bảng rồi rời khỏi nhà chị Hoàng Thị T. Sau khi lấy trộm được chiếc máy tính bảng rời khỏi nhà chị Hoàng Thị T thì Nguyễn Hoàng Xuân N đi bộ dọc theo tuyến đường tỉnh lộ 551, khi đến trước quán K (thuộc địa phận thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh) N nhờ một nam thanh niên (không xác định được nhân thân, lai lịch) điều khiển xe máy điện chở đến cửa hàng điện thoại Anh D của anh Phạm Công A (sinh năm 2000, thuộc thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh). Tại đây, Nguyễn Hoàng Xuân N nói với anh Phạm Công A: “Em có cái máy này của em gái em không dùng nữa, anh mua cho em cái” rồi mở mật khẩu máy đưa cho anh Phạm Công A kiểm tra. Sau khi trao đổi, thống nhất, Nguyễn Hoàng Xuân N bán chiếc máy tính bảng cho anh Phạm Công A với giá 800.000 đồng (T1 trăm nghìn đồng) rồi lấy tiền tiêu xài cá nhân hết. Ngày 09/3/2024, Nguyễn Hoàng Xuân N được Công an xã K triệu tập đến trụ sở làm việc, quá trình làm việc Nguyễn Hoàng Xuân N đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 22/HĐĐG ngày 21/03/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện K kết luận: Giá trị của 01 (một) chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Ipad Air 2, số IMEI: 356968064141326, màu xám, không gắn sim, tình trạng đã qua sử dụng tại thời điểm xảy ra vụ án là 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng).
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu là chị Hoàng Thị T: 01 (một) chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Ipad Air 2, số IMEI: 356968064141326, màu xám, không gắn sim, tình trạng đã qua sử dụng.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng.
Tại bản Cáo trạng số 27/CT- VKSKA ngày 29 tháng 5 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Xuân N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Hoàng Xuân N từ 08 đến 10 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 22/3/2024
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước ở Nguyễn Hoàng Xuân N số tiền 800.000₫ (Tám trăm ngàn đồng)
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo: Xử buộc Nguyễn Hoàng Xuân N phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Chứng cứ: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, lời khai người làm chứng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 07/3/2024, tại nhà của chị Hoàng Thị T (thuộc thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh), lợi dụng sự sở hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, Nguyễn Hoàng Xuân N đã có hành vi lén lút lấy trộm của chị Hoàng Thị T 01 (Một) chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Ipad Air 2, số IMEI: 356968064141326, màu xám, có trị giá là 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn đồng). Sau khi lấy trộm được chiếc máy tính bảng của chị Hoàng Thị T thì Nguyễn Hoàng Xuân N đem bán cho anh Phạm Công A (sinh năm 2000, trú tại thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh) lấy số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng) tiêu xài cá nhân hết.
Hành vi của Nguyễn Hoàng Xuân N đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm Cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này, Nguyễn Hoàng Xuân N thực hiện hành vi phạm tội một mình, không có đồng phạm.
[3]. Tích chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Đối với Nguyễn Hoàng Xuân N mặc dù vào ngày Ngày 24/08/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm”. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, coi thường kỷ cương pháp luật Nhà nước, làm mất trật tự, trị an trên địa bàn khu dân cư. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “Tái phạm”quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng Xuân N được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Tự nguyên bồi thường thiệt hại”, “Thành khẩn khai báo”, bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, những tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo, nhưng dù xem xét đến đâu thì cũng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy đình tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Đối với các vấn đề liên quan:
Trong vụ án này, anh Phạm Công A có mua lại 01 chiếc máy tính bảng do Nguyễn Hoàng Xuân N trộm cắp của chị Hoàng Thị T đem đến bán. Tuy nhiên, khi mua tài sản này anh Phạm Công A không biết đây là tài sản do Nguyễn Hoàng Xuân N trộm cắp mà có và cũng không có hứa hẹn gì trước với Nguyễn Hoàng Xuân N nên hành vi của anh Phạm Công A không cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và không đồng phạm với Nguyễn Hoàng Xuân N về tội “Trộm cắp tài sản”.
Đối với nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) mà Nguyễn Hoàng Xuân N đi nhờ xe, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tiến hành xác minh thông tin, làm rõ vai trò của người này trong vụ án nhưng không có kết quả.
[6]. Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu là chị Hoàng Thị T: 01 (một) chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Ipad Air 2, số IMEI: 356968064141326, màu xám, không gắn sim, tình trạng đã qua sử dụng, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng Xuân N đã chủ động bồi thường cho bị hại là chị Hoàng Thị T số tiền 2.000.000 đồng, chị Hoàng Thị T đã nhận lại tài sản và số tiền bồi thường; hiện nay chị T không yêu cầu bồi thường gì thêm; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Công A không yêu cầu bồi thường dân sự, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[8]. Biện pháp tư pháp: Truy thu nộp vào ngân sách nhà nước ở N số tiền 800.000đ, số tiền này do N lấy trộm được 01 (một) chiếc Ipad Air 2, số IMEI: 356968064141326, màu xám của chị Hoàng Thị T đem bán cho anh Phạm Công A mà có, nhưng hiện nay anh Phạm Công A không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 800.000đ nói trên, nên số tiền này là do bị cáo phạm tội mà có, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[10]. Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo;
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Hoàng Xuân N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt Nguyễn Hoàng Xuân N 08 (T1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 22/3/2024
Biện pháp tư pháp: Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước ở Nguyễn Hoàng Xuân N số tiền 800.000đ (Tám trăm ngàn đồng)
Về án phí: Xử buộc Nguyễn Hoàng Xuân N phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Xuân Hoàng |
Bản án số 27/2024/HSST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 27/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng Xuân N phạm tội trộm cắp tài sản
