|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA TỈNH PHÚ YÊN Bản án số: 27/2024/HSST Ngày 16/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Hưng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Khảnh và ông Nguyễn Bảo Toàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trúc Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Bảo Pháp - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên (điểm cầu trung tâm) và tại Cơ sở cai nghiện ma túy và trợ giúp xã hội tỉnh Phú Yên (điểm cầu thành phần) xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Như Â, sinh ngày 15/11/2001; Nơi cư trú: Khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Như Á, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1977; Vợ: Huỳnh Châu Tuyết N1, sinh năm 2003; Có 01 con sinh năm 2023; Tiền án: Không.
Tiền sự:
- Ngày 08/11/2023, bị Công an phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Ngày 25/01/2024, bị Công an phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Ngày 15/01/2019, bị Công an phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 375.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Ngày 04/7/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong bản án ngày 02/7/2020.
- Ngày 10/5/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng kể từ ngày 25/4/2024. Bị cáo đang chấp hành cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý và trợ giúp xã hội tỉnh Phú Yên. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
- * Bị hại: Nguyễn Thị H, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có đề nghị xét xử vắng mặt.
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: (Tham dự tại điểm cầu trung tâm)
- - Anh Đồng Văn Minh H1, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
- - Anh Võ Như H2, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
- - Bà Huỳnh Thị S, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
- - Chị Huỳnh Châu Tuyết N1, sinh năm 2003; Nơi cư trú: Khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt
- - Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
- * Người làm chứng: (Tham dự tại điểm cầu trung tâm)
- - Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
- - Anh Nguyễn Hữu T1, sinh năm 2001; Nơi cư trú: Khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 29/12/2023, Võ Như H2, sinh năm 1995 (trú tại thôn P, xã H, thị xã Đ) nhờ Đồng Văn Minh H1, sinh năm 200 (trú tại thôn P, xã H, thị xã Đ) điều khiển xe mô tô biển số 78F6-6836 của H2 chở Nguyễn Như  đến nhà trọ của H2 ở thôn P, xã H, thị xã Đ chơi. Trên đường đi,  phát hiện xe mô tô biển số 78G1-474.25 của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 2004 (trú tại thôn P, xã H, thị xã Đ) đang dựng trước sân nhà chị H, trên xe có gắn chìa khoá nên nảy sinh ý định trộm xe bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này  hỏi H1 lấy trộm xe mô tô này không thì H1 trả lời “tao không lấy”,  nói lại “mày không lấy thì tao lấy một mình”, H1 không nói gì và chở  về nhà trọ của H2.
Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, sau khi chơi ở nhà trọ của H2. Ân nhờ H1 mượn xe mô tô biển số 78F6-6836 của H2 chở  về nhà. Khi đi ngang qua nhà Nguyễn Thị H tại thôn P, xã H,  thấy xe mô tô biển số 78G1-474.25 của H vẫn dựng trước sân nhà.  nói H1 chở lại nhà bạn chơi rồi nhờ bạn  chở về. Khi đến vị trí cách nhà H khoảng 10 mét,  xuống xe và H1 điều khiển xe về nhà trọ của H2. Ân vào sân nhà H, dắt xe mô tô biển số 78G1-474.25 ra đường, mở khóa và điều khiển xe về nhà  cất giấu. Sau đó,  đặt mua một biển số xe mô tô 78G1-439.47 qua mạng xã hội Facebook của một thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 100.000 đồng rồi gắn vào xe của chị H và đem biển số 78G1-474.25 vứt ở cầu Đ thuộc khu phố E, phường P, thành phố T.
Khoảng 19 giờ ngày 30/12/2023, Â nhờ Huỳnh Châu Tuyết N1 (vợ Â) mang xe mô tô gửi tại nhà của Nguyễn Hữu T1 (bạn Â) nhưng không có T1 nên N1 gửi cho ông Nguyễn Hữu T (cha T1). Ngày 31/12/2023, Cơ quan công an mời Ân làm việc, Â thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp xe mô tô trả lại cho H.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 08/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản T: Xe mô tô biển số 78G1-474.25 trị giá 9.000.000đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
Vật chứng vụ án đang tạm giữ: 01 điện thoại di động hiệu Realme; 01 biển số xe 78G1-439.47.
Tại bản cáo trạng số: 37/CT-VKSĐH ngày 21/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Như Â về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, đề nghị trả lại điện thoại di động hiệu Realme cho bị cáo vì không liên quan đến hành vi phạm tội.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa luận tội: giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Như Â phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Xử phạt bị cáo Nguyễn Như Â từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không xét.
- Về vật chứng vụ án: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Realme. Tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe 78G1-439.47.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án những người này đã có lời khai tại cơ quan điều tra, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại; người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.
-
[3] Về hành vi của bị cáo Nguyễn Như Â: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, phù hợp với vật chứng thu giữ được, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 29/12/2023, tại thôn P, xã H, thị xã Đ, Nguyễn Như Â đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius biển số 78G1-474.25 của chị Nguyễn Thị H trị giá 9.000.000đồng.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác phục vụ cho nhu cầu của cá nhân là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự, an ninh tại địa phương. Cáo trạng số 37/CT-VKSĐH ngày 21/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
-
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- [4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- [4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
-
[5] Về hình phạt: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 04/7/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xử phạt 09 tháng tù về hành vi trộm cắp tài sản, nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt lại không tu dưỡng rèn luyện, làm ăn lương thiện trở thành công dân có ích cho xã hội mà còn tiếp tục hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
-
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
-
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu về dân sự nên không xét.
-
[8] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,
- [8.1] Tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe mô tô 78G1-439.47, đã qua sử dụng.
- [8.2] Trả lại cho chủ sở hữu tài sản không phải vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội: Hoàn trả cho Nguyễn Như Â một 01 điện thoại di động hiệu Realme narzo 30A, màu xanh, kiểu máy RMX 3171.
-
[9] Về vấn đề khác:
- [9.1] Đối với Đồng Văn M H1 là người chở  đi nhưng không giúp  trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ không xem xét trách nhiệm hình sự là đúng quy định pháp luật
- [9.2] Đối với Huỳnh Châu Tuyết N1, Nguyễn Hữu T, Nguyễn Hữu T1 không biết tài sản do  trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ không xem xét trách nhiệm hình sự là đúng quy định pháp luật.
- [9.3] Đối với người bán biển số xe 78G1-439.47 cho Â, không xác định được lý lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ không xem xét xử lý.
-
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
-
Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như Â phạm tội “Trộm cắp tài sản”.Xử phạt bị cáo Nguyễn Như Â 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
-
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu về dân sự nên không xét. -
Về biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe 78G1-439.47, đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho chủ sở hữu tài sản không phải vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội: Hoàn trả cho Nguyễn Như Â một 01 điện thoại di động hiệu Realme narzo 30A, màu xanh, kiểu máy RMX 3171 đã qua sử dụng.
(Các đặc điểm của vật chứng được mô tả theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa ngày 25 tháng 6 năm 2024).
-
Về án phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Hưng |
Bản án số 27/2024/HSST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 27/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Như Ân
