Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐAKRÔNG

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản số: 27/2024/HS-ST

Ngày: 12/6/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Vĩnh Mỵ

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Ông Nguyễn Văn Thuận
  • + Bà Trương Thị Tố Uyên

Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đakrông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông tham gia phiên tòa: Ông Trần Nhật Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HS, ngày 29 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Võ Đình T, sinh ngày 26 tháng 7 năm 1994, tại Quảng Trị; giới tính: Nam.

    Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Đình S, sinh năm 1940 và bà Ngô Thị K, sinh năm 1954; có vợ Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm 1998 và 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  2. Lê Phúc Cảnh Q, sinh ngày 01 tháng 02 năm 2003, tại Quảng Trị; giới tính: Nam

    Nơi cư trú: Khu phố A, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1964; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 26/01/2024, sau khi cùng nhau thực hiện xong việc đo đạc đất rừng tại khu vực xã Đ, huyện Đ hợp đồng với Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và môi trường tỉnh Q. Võ Đình T và Lê Phúc Cảnh Q nảy sinh ý định đi mua pháo hoa nổ đem về đốt trong dịp Tết Nguyên đán 2024 nên Võ Đình T điều khiển xe mô tô biển số 74F1-298.64 chở Lê Phúc Cảnh Q cùng nhau đi đến khu công nghiệp thuộc xã T huyện H tìm mua pháo. Tại đây, mỗi người góp 4.500.000 đồng và hỏi mua từ một người phụ nữ không rõ lai lịch 18 hộp pháo hoa nổ loại 49 ống với giá 9.000.000 đồng, cất giấu vào trong valy, túi xách hành lý của cá nhân. Sau đó, Võ Đình T điều khiển xe mô tô trên chở Lê Phúc Cảnh Q cùng 18 hộp pháo hoa nổ nói trên chạy theo tuyến Quốc lộ I về thành phố Đ. Khoảng 20 giờ 20 cùng ngày khi Võ Đình T điều khiển xe mô tô biển số 74F1-298.64 chạy đến Km 42+500- Quốc lộ I, thuộc địa phận khóm1, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị thì bị lực lượng Công an huyện Đ quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật.

Tại Bản kết luận giám định số 244/KL-KTHS ngày 30/01/2024 của Phòng K2 (PCông an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật đựng trong các thùng giấy được niêm phong có ký hiệu P1,P2,P3,P4 gửi đến giám định là pháo hoa nổ có tổng khối lượng 31 kilôgam.

Cáo trạng số 20/CT-VKSĐKR ngày 26/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông truy tố các bị cáo Võ Đình T, Lê Phúc Cảnh Q về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Võ Đình T, Lê Phúc Cảnh Q phạm tội của phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự cho hai bị cáo và áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo Q. Xử phạt bị cáo T từ 12 đến 15 tháng tù và bị cáo Q từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ pháo hoa nổ còn lại sau giám định và các vật dụng các bị cáo dùng cất giấu pháo không có giá trị sử dụng và không yêu cầu nhận lại.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo T, Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trong các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ, không tham gia tranh luận gì đối với luận tội của Kiểm sát viên, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên và Kiểm sát viên huyện Đ, tỉnh Quảng Trị: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo có đủ căn cứ xác định: Ngày 26 tháng 01 năm 2024 các bị cáo Võ Đình T và Lê Phúc Cảnh Q sử dụng xe mô tô biển số 74F1-298.64 cùng nhau đi lên xã T huyện H, tỉnh Quảng Trị và mỗi người góp 4.500.000 đồng để mua 18 hộp pháo hoa nổ loại 49 ống từ một người phụ nữ không rõ lai lịch cất giấu, đưa về đốt trong dịp Tết Nguyên đán năm 2024, trên đường vận chuyển pháo về thì bị lực lượng Công an huyện Đ phát hiện bắt phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật.

Hành vi mua cất giấu 31 kg pháo hoa nổ của các bị cáo Võ Đình T và Lê Phúc Cảnh Q đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Khoản1 Điều 191 Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào ... vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây ... thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;”.

Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị truy tố các bị cáo Võ Đình T và Lê Phúc Cảnh Q về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:

Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực nhận thức hành vi và chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi mua tàng trữ 31kg pháo hoa nổ của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng, nên cần áp dụng hình phạt tù xử phạt các bị cáo tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung.

Xét vai trò và mục đích phạm tội của các bị cáo thấy: Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, các bị cáo có cùng ý chí, mục đích và cùng thực hiện hành vi tội phạm, nên các bị cáo T và Q phải chịu chung hậu quả và trách nhiệm hình sự ngang nhau.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm

tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, cần áp dụng các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Quá trình sinh sống tại địa phương, các bị cáo luôn chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương nơi cư trú, nhân thân tốt. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho hai bị cáo được hưởng án treo, cải tạo rèn luyện tại địa phương, cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo T chưa có việc làm, thu nhập; bị cáo Q đang là sinh viên và đều không có tài sản, không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Nguyễn Đình T1 và bị cáo Lê Phúc Cảnh Q, tại Lệnh số 19 và 20/2024/HSST-LCĐKNCT-TA, ngày 02/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đakrông.

[4] Đối với người phụ nữ bán pháo cho các bị cáo cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành điều tra xác minh, khi nào có kết quả sẽ xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 13 hộp pháo hoa nổ, khối lượng 22,4kg còn lại sau giám định và các vật dụng các bị cáo dùng cất giấu pháo không có giá trị sử dụng và không yêu cầu nhận lại

Đối xe mô tô biển số 74F1-298.64 hiệu HONDA AIR BLADE, màu đen đỏ và các điện thoại, giai đoạn điều tra, truy tố cơ quan Công an, Viện kiểm sát đã trả cho bị cáo T1 và bị cáo Q theo quy định pháp luật. HĐXX không xem xét.

[6] Về án phí: Các bị cáo T1, Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Võ Đình T, Lê Phúc Cảnh Q phạm tội “Tàng trữ hàng cấm".

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; khoản Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với hai bị cáo:

    • - Xử phạt bị cáo Võ Đình T 15 ( Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án 12/6/2024.

    Giao bị cáo Võ Đình T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    • - Xử phạt bị cáo Lê Phúc Cảnh Q 15 ( Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án 12/6/2024.

    Giao bị cáo Lê Phúc Cảnh Q cho Ủy ban nhân dân Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    • - Tịch thu tiêu hủy: 13 hộp pháo hoa nổ, khối lượng 22,4kg còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 thùng giấy ký hiệu P1 có dấu của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Q và 01 túi xách màu đen, 01 áo thun cổ tròn màu trắng, 01 valy nhựa màu xanh, 01 ba lô vải màu xanh đen, 01 quần đùi màu xanh, 01 quần vải màu xanh, 01 áo thun màu trắng – gạch, 01 sợi dây cao su màu xanh không có giá trị sử dụng.
    • - Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị.
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Võ Đình T, Lê Phúc Cảnh Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 12/6/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND huyện Đakrông;
  • - Công an huyện Đakrông;
  • - THADS huyện Đakrông;
  • - Bị cáo; người tham gia tô tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, dán án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Văn Vĩnh Mỵ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ về tàng trữ hàng cấm

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 26/01/2024 bị cáo Võ Đình T và Lê Phúc Cảnh Q cùng nhau góp tiền và lê xã T, mua 18 hộp pháo hoa nổ, khối lượng 31 kg, cất giấu vào hành lý đưa về để đốt dịp tết nguyên đán Giáp Thìn thì bị Công an huyện Đ bắt phạm tội quả tang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger