TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2024/HS-ST Ngày 06 tháng 5 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Huy Châu và bà Lê Bích Ngọc
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mộng Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Công Ninh - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 28/2023/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc D (tên gọi khác H), sinh ngày 17 tháng 11 năm 2005, tại An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng P và bà Lê Thị L; bị cáo chưa vợ con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 18/12/2023, Nguyễn Ngọc D bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/11/2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh A (có mặt).
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Ngọc D có ông Hà Quang V Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh A ( có mặt)
Người làm chứng: Ông Phạm Hồng S, Châu Huy H, Trần Vũ D1, Lê Dương Anh H1, Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Hồng P, Ôn Thị Kim N và Trần Văn K (tất cả đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 16/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp nhận nguồn tin tội phạm về việc Nguyễn Ngọc D có hành vi tàng trữ vũ khí quân dụng tại nhà thuộc ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang. Đến ngày 17/11/2023, D đến Cơ quan Cảnh sát điều tra C huyện T để đầu thú. Quá trình lấy lời khai D thừa nhận mình đã cùng N1, T1, T2 và T3 dùng dao tự chế gây thương tích cho Huỳnh A với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 04%. Đồng thời, D thừa nhận có cất giấu một khẩu súng tại nhà thuộc ấp Đ, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà của D thu giữ 01 khẩu súng dạng ổ quay, số hiệu XYL230504064, thân súng và nòng súng bằng kim loại màu đen, bên trong ổ quay chứa 02 viên đạn.
Qua điều tra xác định: Vào khoảng tháng 07/2023, do có mâu thuẫn với nhóm thanh niên ở xã V và thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang nên D muốn mua vũ khí để phòng thân. Thông qua mạng xã hội Facebook, D quen biết với Phạm Hồng S tên tài khoản Facebook là “Anh Duy” có bán vũ khí nên D đã đặt mua của S một khẩu súng R và ba viên đạn với số tiền 3.500.000 đồng, trả tiền bằng cách chuyển khoản thông qua ngân hàng Q (M). D chuyển khoản trước 2.000.000 đồng, số tiền còn lại khi nhận được súng sẽ chuyển sau. Khoảng 04 ngày sau, người đàn ông (không rõ nhân thân, đơn vị vận chuyển) liên hệ giao hàng cho D, kiểm tra kiện hàng thấy bên trong là súng và 03 viên đạn nên đã chuyển khoản số tiền còn lại cho S. Đến tối cùng ngày, D đã đem súng đến khu vực cánh đồng vắng người cách nhà khoảng 02km để bắn thử và đã bắn phát nổ được 01 viên đạn. Sau khi bắn thử xong, D đem súng về nhà cất giấu cho đến khi bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khám xét thu giữ.
Ngoài ra, quá trình điều tra, D còn khai nhận khoảng đầu tháng 5/2023, D mượn Nguyễn Hoài T4 01 khẩu súng đem về nhà cất dấu, khoảng 2 tuần sau D đem trả lại cho T4. Kết quả giám định khẩu súng trên không phải vũ khí quân dụng.
* Căn cứ Kết luận giám định số 7260/KL-KTHS ngày 22/11/2023 của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- · Khẩu súng ổ quay gửi giám định là súng chế tạo thủ công nồng nhẵn sử dụng để bắn với đạn thể thao cở (5,6 x 15,5)mm. Hiện tại súng có đủ bộ phận và bắn được đạn nổ. Khẩu súng nêu trên là vũ khí có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và thuộc vũ khí quân dụng.
- - 02 viên đạn gửi đến giám định là đạn chưa bắn cỡ (5,6 x 15,5)mm, thuộc nhóm vũ khí thể thao, không phải vũ khí quân dụng. Loại đạn này thường sử dụng để bắn cho một số vũ khí quân dụng, thể thao như TOZ8, K55, súng ám sát hình bút, khẩu súng ổ quay nêu trên và một số súng tự chế có đường kính buồng đạn phù hợp.
- - Sử dụng khẩu súng ổ quay nêu trên bắn với đạn thể thao cở (5,6 x 15,5)mm trúng cơ thể người có thể gây thương tích hoặc tử vong.
* Căn cứ Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 771/KLGĐĐT-TTPYCT ngày 21/11/2023 của Trung tâm Pháp y - Sở ý tế thành phố C, kết luận: Nguyễn Ngọc D có độ tuổi là 17 năm 09 tháng đến 18 tuổi 03 tháng (tại thời điểm giám định ngày 17/11/2023).
* Lời khai những người làm chứng: Lê Dương Anh H1, Nguyễn Hoài T4, Trần Vũ D1, Phạm Hồng S, Nguyễn Hồng P, Ôn Thị Kim N trình bày phù hợp với nội dung vụ án.
* Quá trình điều tra bị can Nguyễn Ngọc D thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu trên, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác trong vụ án.
Trần Văn B, Trần Văn V1, S, Trương Thanh H2 Tại Cáo trạng số: 29/CT-VKSAG-P1 ngày 05/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố Nguyễn Ngọc D về tội “Tàng trữ, sử dụng, mua bán, trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Ngọc D vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 12; Điều 38, Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ, sử dụng, mua bán, trái phép vũ khí quân dụng”.
Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử lý các tang vật chứng theo quy định của pháp luât.
Đối với 01 khẩu súng, 02 viên đạn giao cho Ban Chỉ huy quân sự tỉnh A quản lý và thực hiện việc xử lý theo quy định; đối với các vật chứng còn lại không có giá trị sử dụng, mau hỏng, rẻ tiền nên cần tịch thu tiêu hủy; tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với 01 Iphone 11 của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
Người bào chữa của bị cáo đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc D về tội danh và khung hình phạt. Tuy nhiên, có xem xét cho bị cáo lúc phạm tội là người chưa thành niên, hoàn cảnh gia đình thiếu sự quan tâm của cha mẹ, thiếu suy nghĩ về pháp luật, thành thật khai báo, ăn năn hối cải; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức hình phạt đầu khung mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Ngọc D nhất trí với bản luận cứ bào chữa nêu trên của người bào chữa, đồng thời không bào chữa bổ sung gì khác. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa người làm chứng đều vắng mặt, xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng tháng 07/2023, do có mâu thuẫn với nhóm thanh niên ở xã V và thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang; bị cáo D muốn mua vũ khí để phòng thân. Thông qua mạng xã hội Facebook, bị cáo quen biết với Phạm Hồng S tên tài khoản Facebook là “Anh Duy” có bán vũ khí nên bị cáo đã đặt mua của S một khẩu súng R và ba viên đạn với số tiền 3.500.000 đồng, trả tiền bằng cách chuyển khoản thông qua ngân hàng Q (M). Bị cáo D chuyển khoản trước 2.000.000 đồng, số tiền còn lại khi nhận được súng sẽ chuyển sau. Khoảng 04 ngày sau, người đàn ông (không rõ nhân thân, đơn vị vận chuyển) liên hệ giao hàng cho bị cáo, kiểm tra kiện hàng thấy bên trong là súng và 03 viên đạn nên đã chuyển khoản số tiền còn lại cho S. Đến tối cùng ngày, bị cáo đã đem súng đến khu vực cánh đồng vắng người cách nhà khoảng 02km để bắn thử và đã bắn phát nổ được 01 viên đạn. Sau khi bắn thử xong, bị cáo đem súng về nhà cất giấu cho đến khi bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khám xét thu giữ.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Ngọc D đã phạm tội “Tàng trữ, sử dụng, mua bán, trái phép vũ khí quân dụng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 01 năm đến 07 năm (tội phạm nghiêm trọng).
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Nguyễn Ngọc D là người có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật, nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân dẫn đến vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng, vi phạm quy định của Nhà nước về chế tạo, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; đe dọa đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo biết tôn trọng pháp luật, đồng thời răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Việc áp dụng hình phạt tù là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung; tại thời điểm xét xử sơ thẩm bị cáo đã đủ 18 tuổi, nhưng khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nên áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, có cân nhắc mức hình phạt theo khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự; chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người người công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 đến 05 năm. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5] Về vật chứng: Đối với 01 khẩu súng, 02 viên đạn giao cho cho Ban Chỉ huy quân sự tỉnh A quản lý và thực hiện việc xử lý theo quy định; đối với các vật chứng còn lại không có giá trị sử dụng, mau hỏng nên cần tịch thu tiêu hủy; tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 Iphone 11 của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc D (H) phạm tội “Tàng trữ, sử dụng, mua bán, trái phép vũ khí quân dụng”.
Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 12; Điều 38; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc D 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/11/2023.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Giao Ban Chỉ huy quân sự tỉnh A quản lý và thực hiện xử lý theo quy định: 01 khẩu súng, 02 viên đạn.
Tịch thu tiêu hủy: 01 bao da màu nâu, bên ngoài ghi chữ XYL; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 02 bầu phiểu thủy tinh trong suốt hình chữ L; 02 ống hút màu trắng, hồng mỗi đầu được cắt nhọn; 01 đoạn kim loại tròn dài 2m, đường kính 2cm, một đầu có gắn 03 đoạn sắt vuốt nhọn hình chữ W, kích thước (40x23)cm; 01 bộ quần áo màu nâu bên vai trái của áo cho L1 màu vàng, xanh ghi chữ CÔNG AN XÃ.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, số máy MHDG3VN/A, số sê ri DX3HXAYVN73C, số IMEI 355685277289038, có gắn sim số 08656775116.
(Đặc điểm tang vật như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/3/2024 giữa Cơ quan An ninh Điều tra Công an tỉnh A với Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa:
Bị cáo Nguyễn Ngọc D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sơn |
Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 06/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tàng trữ, sử dụng, mua bán, trái phép vũ khí quân dụng
- Số bản án: 27/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ, sử dụng, mua bán, trái phép vũ khí quân dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo D phạm tội Cố ý gây thương tích
