|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2024/HS-ST Ngày: 31-7-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Út Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Văn Trường
Ông Triệu Xuân Nguyên
Thư ký phiên tòa: Bà La Quỳnh Anh - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nông Thiêm Mẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T
(Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 20 tháng 01 năm 1975 tại huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Lê Thị N, sinh năm 1933; Bị cáo có vợ là Hoàng Thị H, sinh năm 1981 (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2004;
Tiền án: 01. Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2019/HSST, ngày 18/11/2019 của TAND thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 30 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 07/3/2022 chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2012, bị UBND huyện N, tỉnh Bắc Kạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Sầm Đức T2 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.
- Người làm chứng:
Ông Tạ Văn V, sinh năm 1987 - Địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
Ông Ma Thế Đ, sinh năm 1991 - Địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
Ông Hoàng Đức H1, sinh năm 1990 - Địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
Ông Triệu Văn H2, sinh năm 1993 - Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
Những người làm chứng đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 10 phút ngày 16/01/2024, Tổ công tác Công an thị trấn N đang tiến hành tuần tra, kiểm soát về an ninh trật tự tại tổ dân phố B, thị trấn N, huyện N phát hiện 01 đối tượng nam giới có biểu hiện liên quan đến việc sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác tiếp cận kiểm tra đối tượng khai nhận là Ma Thế Đ, Đ khai nhận bản thân vừa có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Nguồn gốc số ma túy là do trước đó vào ngày 16/01/2024 Đ cùng Tạ Văn V đến nhà của Nguyễn Văn T, trú tại thôn N, xã H, huyện N mua để sử dụng. Tại hiện trường phát hiện 01 mảnh giấy bạc loại giấy trong bao thuốc lá đã bị đốt cháy xém và 01 bật lửa gas. Công an thị trấn N đã lập biên bản sự việc, niêm phong mảnh giấy bạc và chiếc bật lửa gas trong phong bì ký hiệu Đ1 và chuyển tài liệu có liên quan đến Cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền.
Hồi 13 giờ 40 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, tài sản có liên quan đối với Nguyễn Văn T. Quá trình khám xét trên người của T phát hiện thu giữ: Số tiền 3.430.000 đồng (ba triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng) tại túi áo đằng trước bên phải, tạm giữ số tiền 920.000, đồng tại túi áo đằng trước bên trái Tưởng đang mặc (niêm phong trong phong bì ký hiệu T1), 01 điện thoại di động mà hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO tại túi quần đằng trước bên trái (niêm phong trong phòng bì ký hiệu T2). Thu giữ tại buồng ngủ của Tưởng: 01 (một) gói bằng túi nilon trong suốt có nền chữ màu xanh (vỏ kim tiêm) bên trong có hai gói chất màu trắng dạng cục và bột mỗi gói được gói bằng 01 (một) lớp nilon màu xanh và 01 (một) mảnh nilon màu xanh bên trên có chứa chất màu trắng dạng cục và bột (niêm phong trong phong bì ký hiệu A1); 03 gói chất bột màu trắng mỗi gói được gói bằng một lớp giấy mặt bên ngoài màu vàng, mặt bên trong màu trắng; thu giữ 01 (một) mảnh kim loại (làm từ vỏ lon nước ngọt) và 01 (một) chiếc kéo có cán màu hồng (niêm phong trong phong bì ký hiệu T3); Số tiền 21.600.000 đồng Tưởng để trong ví màu đen, dưới đệm đầu giường (niêm phong trong phong bì ký hiệu T4); 01 cân điện tử màu đen mặt trên cân có chữ POCKET SCALE (niêm phong trong phong bì ký hiệu T5). Ngoài ra không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu nào khác.
Cơ quan CSĐT Công an huyện N tiến hành mở, đóng niêm phong và cân xác định khối lượng số chất màu trắng dạng cục, bột trong phong bì ký hiệu A1, cân riêng số chất màu trắng dạng cục và bột có khối lượng 5,33g (năm phẩy ba ba gam) và được niêm phong trong phong bì ký hiệu B1 để gửi đi giám định. Số vật chứng còn lại gồm 01 phong bì ký hiệu A1 đã mở niêm phong, giấy gói cũ cho vào phong bì mới niêm phong ký hiệu B2.
Tại Kết luận giám định số 55/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục, bột trong phong bì ký hiệu B1 là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 5,33g (năm phẩy ba ba gam). Sau giám định mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại 5,25g (năm phẩy hai năm gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T45 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.
Quá trình điều tra, truy tố, Nguyễn Văn T khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy. Số ma túy mà cơ quan công an thu giữ là của T, do T mua về để sử dụng cá nhân và để bán kiếm lời nếu có ai hỏi mua. Cụ thể: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 15/01/2024, T lên khu vực xã B, huyện N mua ma túy với một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ với số tiền là 8.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Tưởng mang về nhà ở thôn N, xã H, huyện N cất giữ rồi dùng chiếc cân điện tử để kiểm tra khối lượng ma túy mua được, dùng mảnh kim loại làm từ vỏ lon nước ngọt (dạng thìa) để chia nhỏ ma túy, dùng chiếc kéo có cán màu hồng cắt giấy để gói thành các gói nhỏ mục đích để bán cho người nghiện khi có ai hỏi mua. Cụ thể trong ngày 16/01/2024 Nguyễn Văn T đã bán ma túy cho những người sau:
Khoảng 12 giờ ngày 16/01/2024 được bán ma túy cho Ma Thế Đ và Tạ Văn V. Đ và V cùng nhau đến nhà và vào trong phòng khách để hỏi mua ma túy. Sau đó T bán một lần đồng thời cho mỗi người 01 gói nhỏ ma túy với giá là 200.000 đồng.
Khoảng hơn 11 giờ hơn, T bán cho Triệu Văn H2 01 gói nhỏ ma túy với giá 200.000, đồng. Đến khoảng 11 giờ 45 phút, T bán cho Hoàng Đức H1 01 gói nhỏ ma túy với giá 200.000 đồng. Địa điểm các lần bán đều tại phòng khách nhà của T thuộc thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
Ngày 26/3/2024, Cơ quan điều tra tiến hành thực nghiệm điều tra ghi nhận lại diễn biến hoạt động mua bán, giao, nhận, tiền, ma túy giữa Nguyễn Văn T với Ma Thế Đ, Tạ Văn V, Hoàng Đức H1 vào ngày 16/01/2024. Kết quả hoàn toàn phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS-NS, ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử lý bị cáo như sau:
Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c, i khoản 2, khoản 5 Điều 251, Điều 38, điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 09 năm đến 10 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 16/01/2024. Hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt bổ sung bị cáo từ 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng trong vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Tịch thu tiêu hủy các phong bì niêm phong chứa mẫu hoàn trả sau giám định, giấy gói cũ, phong bì niêm phong cũ, ví giả da màu đen, vật chứng thu giữ của Ma Thế Đ, đồ vật liên quan tạm giữ của Nguyễn Văn T có trong các phong bì niêm phong ký hiệu T45, B2, Đ2, Đ1, T3.
- - Tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước: 01 cân điện tử có trong phong bì niêm phong ký hiệu T5.
- - Buộc nộp lại số tiền 800.000 đồng do bị cáo bán ma túy mà có trong tổng số tiền 25.950.000 đồng tạm giữ của bị cáo. Số tiền còn lại tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
- - Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại tạm giữ có trong phong bì ký hiệu T2.
Về án phí: Đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo có bản bào chữa nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, xử lý vật chứng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo có mẹ già, gia đình thuộc diện hộ nghèo sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 08 năm đến 09 năm tù. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền mức thấp nhất trong khung hình phạt bổ sung. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.
Bị cáo khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố và nhất trí với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, bản bào chữa của người bào chữa; Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bổ sung bào chữa hay khiếu nại gì. Lời sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, những người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai và ý kiến trong hồ sơ vụ án. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo
H3 12 giờ 10 phút ngày 16/01/2024, tại TDP B, thị trấn N, huyện N, tổ công tác Công an thị trấn Nà Phặc phát hiện, lập biên bản đối với Ma Thế Đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đ khai nhận được mua ma túy với Nguyễn Văn T, sinh năm 1975 trú tại thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Bắc Kạn để sử dụng.
Hồi 13 giờ 40 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, tài sản có liên quan đối với Nguyễn Văn T thu giữ số ma túy (H) có khối lượng 5,33g (năm phẩy ba ba gam). Tưởng khai nhận do bản thân nghiện ma túy nên đã mua ma túy về sử dụng và bán cho các đối tượng nghiện để kiếm lời (không chia cụ thể phần nào để sử dụng, phần nào để bán), cụ thể:
Khoảng 11 giờ hơn ngày 16/01/2024, bị cáo bán cho Triệu Văn H2, 01 gói nhỏ ma túy với giá 200.000, đồng. Đến khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày được bán ma túy cho Hoàng Đức H1 01 gói nhỏ ma túy với giá 200.000 đồng. Khoảng 12 giờ ngày 16/01/2024, trong một lần, bị cáo đồng thời bán ma túy cho Ma Thế Đ và Tạ Văn V mỗi người 01 gói nhỏ ma túy với giá là 200.000 đồng. Tổng số tiền bán ma túy có được là 800.000 đồng.
[3] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản sự việc, biên bản khám xét, biên bản thực nghiệm điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của những người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- Phạm tội 02 lần trở lên;
- Đối với 02 người trở lên;
...
i) Heroine... có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Do đó, bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương, làm gia tăng tỷ lệ người nghiện ma túy trong cộng đồng, phát sinh nhiều tệ nạn nguy hiểm xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.
Người bào chữa tại phiên tòa đã đưa ra được những chứng cứ chứng minh về các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và các chứng cứ khác nhằm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xét thấy bản bào chữa của người bào chữa có căn cứ và cơ sở pháp luật, do vậy cần chấp nhận.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo
Bị cáo phạm tội khi đang có một tiền án, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố, và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình; bị cáo còn tự khai nhận những lần bán ma túy trước đó cho Hoàng Đức H1, Triệu Văn H2. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội tự thú” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua ma túy để bán cho người nghiện kiếm lời, bị cáo có tài sản, có thu nhập nên cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định của pháp luật.
[7] Về xử lý vật chứng trong vụ án
- - Các vật chứng là phong bì niêm phong chứa mẫu hoàn trả sau giám định, giấy gói cũ, phong bì niêm phong cũ, vật chứng thu giữ của Ma Thế Đ, đồ vật liên quan tạm giữ có trong các phong bì niêm phong ký hiệu T45, B2, Đ2, Đ1, T3 xét là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 ví giả da màu đen có trong các phong bì niêm phong ký hiệu Đ2 là của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu lấy lại. Xét chiếc ví đã cũ, không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với vật chứng thu giữ của Ma Thế Đ ngày 16/01/2024 là mảnh giấy bạc và bật lửa được niêm phong trong phong bì ký hiệu Đ1 là vật không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 cân điện tử có trong phong bì niêm phong ký hiệu T5 bị cáo sử dụng để cân ma túy cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước.
- - Đối với số tiền 800.000 đồng do bị cáo bán ma túy mà có trong tổng số tiền 25.950.000 đồng tạm giữ của bị cáo cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại 25.150.000 đồng là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
- - Đối với 01 điện thoại tạm giữ có trong phong bì ký hiệu T2 là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, bị cáo đề nghị xin lại nên cần trả cho bị cáo.
[8] Trong vụ án này còn có những vấn đề liên quan
Đối với người đàn ông theo bị cáo khai nhận được mua ma túy tại Khu A, xã B, huyện N, tỉnh Bắc kạn, quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với Ma Thế Đ đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan CSĐT Công an huyện N chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan cho Cơ quan chức năng xử lý theo quy định.
Đối với Tạ Văn V, Hoàng Đức H1, Triệu Văn H2 là người nghiện ma túy được mua ma túy với bị cáo, đã sử dụng hết không thu giữ được tang vật nên không xử lý các đối tượng trên. Cơ quan CSĐT phối hợp với Cơ quan chức năng lập hồ sơ quản lý theo quy định.
[9] Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí. Do vậy bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b, c, i khoản 2, khoản 5 Điều 251, Điều 38, điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo 16/01/2024.
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng trong vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
2.1. Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T45, mặt trước phong bì có ghi: Mẫu hoàn trả vụ Nguyễn Văn T (1975) Mua bán trái phép chất ma túy.
- - 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ghi: Giấy gói cũ và phong bì niêm phong cũ của Nguyễn Văn T ngày 16/01/2024 được niêm phong trong phong bì ký hiệu B2.
- - 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ghi: Phong bì niêm phong cũ đã ký hiệu T1, T4 và ví giả da màu đen tạm giữ của Nguyễn Văn T được cho vào phong bì niêm phong ký hiệu Đ2.
- - Đồ vật liên quan (kéo, mảnh kim loại) tạm giữ của Nguyễn Văn T, có trong 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T3.
- - 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ghi: Vật chứng thu giữ của Ma Thế Đ ngày 16/01/2024 được niêm phong trong phong bì ký hiệu Đ1.
2.2. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 800.000 đồng do bị cáo bán ma túy mà có trong tổng số tiền 25.950.000 đồng tạm giữ của Nguyễn Văn T trong phong bì ký hiệu Đ3.
2.3. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 cân điện tử tạm giữ của Nguyễn Văn T có trong 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T5.
2.4. Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Nguyễn Văn T: Số tiền 25.150.000 đồng còn lại (sau khi truy thu số tiền 800.000 đồng do bị cáo bán ma túy mà có) trong tổng số tiền 25.950.000 đồng tạm giữ của Nguyễn Văn T đã được kiểm tra và niêm phong trong phong bì ký hiệu Đ3. Sau khi thi hành xong các khoản phải thi hành, số tiền còn lại trả cho bị cáo Nguyễn Văn T.
2.5. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T: 01 Điện thoại tạm giữ có trong 01 (một) phong bì niêm phong, ký hiệu T2.
(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngân Sơn).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Út Lệ |
Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 27/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
