Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯƠNG KHÊ

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HS-ST

Ngày 27/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng

  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngạch; ông Nguyễn Quốc Thảo.

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tiến Đ (Tên gọi khác: Không), sinh ngày: 01/6/2001, tại xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn Q, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1980; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/5/2024 đến nay; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Trương Quốc Đ1, sinh năm 1995 (đã chết) gồm có ông Trương Quang T1, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1957 (bố mẹ anh Đ1); đều nghề nghiệp: Hưu trí; đều địa chỉ thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, ủy quyền cho anh Trương Quang Q; sinh năm 1984; địa chỉ thôn D, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, tham gia tố tụng (Văn bản ủy quyền ngày 26/6/2024).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Trần Công S, sinh năm 1999; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

  • + Anh Trần Đăng T2, sinh năm 2000; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

  • + Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1980; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ thôn Q, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Ông Nguyễn Đình T3, sinh năm 1955; địa chỉ xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

  • + Anh Phạm Văn N, sinh năm 1993; anh Hồ Đặng S1, sinh năm 2002; đều địa chỉ thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; đều có mặt.

  • + Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1990; địa chỉ thôn T, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Giữa Nguyễn Tiến Đ với anh Trương Quốc Đ1 là bạn cùng chơi thân với nhau. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 11/3/2024, Nguyễn Tiến Đ được anh Trương Quốc Đ1 mời và nhờ chở xe mô tô biển kiểm soát 38H3-7191 của Đ đến quán “Anh em Quán” thuộc tổ dân phố A, thị trấn H ăn uống nhân dịp kỷ niệm 15 năm ngày cưới của anh Trương Quang Q (anh trai Đ1). Quá trình tham gia dự tiệc thì Đ và anh Đ1 cùng mọi người uống bia. Sau khi dự tiệc xong đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày thì Đ điều khiển xe mô tô chở anh Đ1 đi ăn cháo tại quán ở khu vực G huyện H. Khoảng 23 giờ 10 phút cùng ngày, sau khi ăn xong Nguyễn Tiến Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38H3-7191 chở anh Trương Quốc Đ1 đi từ thị trấn H rồi theo đường H để về nhà tại xã H. Khoảng 23 giờ 15 phút, khi đi đến K+810 đường H thuộc địa phận thôn P, xã H, huyện H, thì có xe mô tô biển kiểm soát 37D1-024.28 do anh Trần Công S, sinh năm 1999 chở anh Trần Đăng T2, sinh năm 2000, cùng trú xã H, huyện H đi cùng chiều phía trước. Khi Đ phát hiện có xe phía trước thì khoảng cách quá gần (khoảng 02 mét) nên Đ lách xe đánh lái về phía bên phải để tránh thì tay lái bên trái xe mô tô 38H3-7191 của Đ đã va quyệt vào phía sau anh Trần Đăng T2 ngồi sau xe mô tô 37D1-024.28 làm cả hai xe mô tô và người ngồi trên xe bị ngã xuống đường. Hậu quả anh Trương Quốc Đ1 ngồi sau xe Đ bị tử vong, Đ và anh T2 bị xây xát, 02 xe mô tô hư hỏng nhẹ.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ nằm trên khu vực đường H thuộc xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Đường H rải thảm nhựa, đường thẳng, rộng 6,5 mét, giữa đường có vạch kẻ sơn nét đứt màu vàng, hai bên mép đường có vạch kẻ sơn nét liền màu trắng, ngoài hai bên mép đường là lề đường rộng 1,1 mét. Ngoài lề đường là dãy hộ lan lượn sóng làm bằng kim loại, cao 0,8 mét, gắn tấm kim loại lượn sóng, khoảng cách giữa hai đỉnh của tấm kim loại là 0,2 mét, đỉnh dưới cao cách mặt đất là 0,45 mét. Phía Bắc hiện trường là hướng đi thị trấn H, phía Nam hiện trường là hướng đi xã H, phía Tây và phía Đông tiếp giáp khu vực đồng ruộng.

Tại hiện trường phát hiện vết cày đường nhựa đánh số (1), vết cày đường nhựa đánh số (2), vết cày đường nhựa đánh số (3), vết trượt mất bụi đánh số (4) trên hộ lan phía Tây, xe mô tô biển kiểm soát 37D1-024.28 đánh số (5), vết cày đường nhựa đánh số (6), vết máu đánh số (7), tử thi đánh số (8) và xe mô tô biển kiểm soát 38H3-7191 đánh số (9) trên hiện trường. Chọn cột biển báo hiệu có ghi dòng chữ “Cầu S 830+785” nằm ngoài lề phía Đông đường H làm mốc cố định. Chọn mép phía Tây đường H làm mép chuẩn trong quá trình khám nghiệm. Mốc cố định cách mép phía Đông đường H là 1,4 mét. Từ móc cố định đo theo hướng Nam 29,5 mét là vết cày đường nhựa đánh số (1) trên hiện trường. Vết cày số (1) dài 1,2 mét, rộng 0,001 mét, gồm nhiều nét đứt quãng, chiều hướng B đến N, nằm trên làn đường phía Tây, đầu vết cày cách mép chuẩn 1,0 mét, cuối vết cày cách mép chuẩn 1,3 mét. Cuối vết cày đánh số (1) đo theo hướng Nam đến đầu vết cày đường nhựa đánh số (2) trên hiện trường là 1,0 mét, vết cày (2) dài 7,6 mét, rộng 0,001 mét, gồm nhiều nét đứt quãng, chiều hướng B đến N, nằm trên làn đường phía Tây, đầu vết cày cách mép chuẩn 0,57 mét, cuối vết cày nằm trên vạch kẻ sơn màu trắng phía Tây đường H. Từ đầu vết cày (2) đo theo hướng Nam đến đầu vết cày đường nhựa đánh số (3) trên hiện trường là 2,9 mét, vết cày (3) dài 6,6 mét, rộng 0,001 mét, chiều hướng Bắc đến N, nằm trên làn đường phía Tây, đầu vết cày (3) cách mép chuẩn 1,5 mét, cuối vết cày (3) cách mép chuẩn 1,3 mét. Từ cuối vết (2) đo theo hướng Nam đến đầu vết trượt mất bụi đánh số (4) trên hiện trường là 1,1 mét. Vết trượt mất bụi đánh số (4), nằm trên dãy hộ lan lượn sóng làm bằng kim loại (dãy hộ lan ở trên lề đường phía Tây), vết số (4) dài 16,6 mét, rộng 0,03 mét, có nhiều vết trượt nhỏ đứt quãng nằm trên mảng kim loại của hộ lan, dọc theo dãy hộ lan lượn sóng và song song với đường H, đầu vết (4) cao cách mặt đất 0,65 mét, cuối vết (4) cao cách mặt đất 0,65 mét. Từ cuối vết cày đánh số (3) đo theo hướng N là trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 37D1-024.28 1,4 mét, xe mô tô đánh số (5) trên hiện trường, dừng đậu trên làn đường phía Tây, đầu xe hướng Nam, đuôi xe hương B, tâm trục bánh sau cách mép chuẩn 0,5 mét, tâm trục bánh trước cách mép chuẩn 0,15 mét. Từ tâm trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 37D1-024.28 đo theo hướng Nam 0,5 mét là đầu vết cày đường nhựa đánh số (6) trên hiện trường, vết cày đánh số (6) dài 23,0 mét, gồm nhiều nét đứt quãng, rộng 0,001 mét, chiều hướng Bắc đến N, đầu vết cày cách mép chuẩn 0,24 mét, cuối vết cày cách mép chuẩn 1,75 mét. Từ đầu vết cày đánh số (6) đo theo hướng Nam 5,8 mét là tâm vết máu đánh số (7) trên hiện trường, vũng máu kích thước 0,3x0,5 mét, nằm trên làn đường phía Tây, có nhiều tia máu bắn tung tóe, tâm vết máu cách mép chuẩn 0,2 mét. Từ tâm vũng máu đo theo hướng N đến chân tử thi là 7,7 mét. Tử thi đánh số (8) trên hiện trường, nằm ngửa trên làn đường phía Tây, đầu tử thi hướng Nam, chân hướng Bắc, đầu tử thi cách mép chuẩn 0,7 mét, chân tử thi cách mép chuẩn 0,1 mét. Từ đầu tử thi đo theo hướng Nam 2,1 mét là trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 38H3-7191, xe mô tô đánh số (9) trên hiện trường, dừng đậu trên làn đường phía Tây, đầu xe hướng Nam, đuôi xe hướng Bắc, tâm trục bánh sau nằm trên vạch kẻ sơn màu trắng phía Tây đường H, tâm trục bánh trước cách mép chuẩn 0,25 mét.

Kết quả khám nghiệm tử thi Trương Quốc Đ1 xác định: Toàn bộ vùng mặt xây xát da trên diện rộng; vùng thái dương đỉnh phải có vết thương kích thước (25x5)cm, bờ mép nham nhở; mặt trước trong cẳng tay phải xây xát da trên diện (20x8)cm; mu bàn tay hai bên có nhiều vết xây xát da nằm rải rác; mặt trước gối trái có đám xây xát da trên diện (10x8)cm; mu bàn chân hai bên có một số vết xây nằm rải rác; Xương hộp sọ bị vỡ nhiều mãnh; Tổ chức não dập nát, trào ra ngoài. Tại Kết luận giám định số 497/KL-KTHS ngày 18/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Nguyên nhân chết của anh Trương Quốc Đ1 là chấn thương sọ não. Cơ chế hình thành: Chấn thương vũng thái dương - đỉnh phải là do vật tày cứng có cạnh tạo nên; các vết xây xát da là do vật tày có diện rộng tạo nên.

Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐG ngày 02/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện H kết luận: Phần hư hỏng tài sản của xe mô tô BKS 37D1-024.28 là 422.000đ.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở do Công an huyện H thực hiện vào hồi 01 giờ 30 phút ngày 12/3/2024 đối với Nguyễn Tiến Đ là 0,356 miligam/1 lít khí thở. Kết quả xét nghiệm hóa sinh máu định lượng Ethanol trong máu của anh Trương Quốc Đ1 là 237.4 mg/dl.

Về vật chứng thu giữ, xử lý: Cơ quan CSĐT Công an huyện đã tạm giữ tại hiện trường 01 xe mô tô biển kiểm soát 37D1-024.28 của anh Trần Công S và 01 xe mô tô biển kiểm soát 38H3-371.91 của Nguyễn Tiến Đ. Sau khi hoàn thành việc khám nghiệm các phương tiên, Cơ quan CSĐT đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Tiến Đ cùng với đại diện hợp pháp của bị hại Trương Quốc Đ1 đã tự thỏa thuận bồi thường xong về dân sự, nay đại diện hợp pháp bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Tiến Đ đã bồi thường cho anh Trần Công S số tiền 500.000đ chi phí sữa chữa xe mô tô 37D1-024.28, nay anh S không có yêu cầu gì.

Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKS-HK ngày 31/7/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Tiến Đ về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Tiến Đ khai nhận về hành vi của mình như nội dung trên và không có ý kiến gì tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải, dằn vặt, xin được giảm nhẹ hình phạt và cải tạo, giáo dục tại địa phương.

Đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại và tha thiết đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt thấp nhất, tạo điều kiện cho bị cáo được giáo dục, cải tạo tại địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Tiến Đ về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng và buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tiến Đ tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án trên. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa như biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản, kết luận khám nghiệm tử thi, phương tiện liên quan trong vụ tai nạn và các biên bản, kết quả điều tra, có đủ cơ sở chứng minh: Khoảng 23 giờ 15 phút, ngày 11/3/2024, Nguyễn Tiến Đ (có giấy phép lái xe theo quy định) sau khi sử dụng bia đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38H3-7191 chở anh Trương Quốc Đ1 từ thị trấn H về xã H theo trục đường H. Khi đi đến K+810 đường H thuộc địa phận thôn P, xã H, huyện H, do không làm chủ tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước, Đ lách sang phải để tránh thì tay lái bên trái xe mô tô do Đ điều khiển đã va quệt vào phía sau anh Trần Đăng T2 ngồi sau xe mô tô biển kiểm soát 37D1-024.28 do anh Trần Công S điều khiển đi cùng chiều phía trước. Hậu quả làm anh Trương Quốc Đ1 ngồi sau xe Đ bị ngã chấn thương sọ não chết tại hiện trường, gây thiệt hại về tài sản là 422.000 đồng. Kết quả kiểm tra trong hơi thở Nguyễn Tiến Đ có nồng độ cồn là 0,356 miligam/1 lít khí thở.

[3] Hành vi của Nguyễn Tiến Đ điều khiển xe mô tô tham gia giao thông do không làm chủ tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước vi phạm quy định tại Điều 12 Luật Giao thông đường bộ và Điều 11 của Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT của Bộ G, nên gây ra tai nạn giao thông hậu quả làm anh Trường Quốc Đ2 chết. Đồng thời, bị cáo điều khiển xe mô tô sau khi đã uống bia, có nồng độ cồn trong hơi thở 0,356 mg/l là vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định”. Vì vậy, Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần phải đưa ra xét xử để đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau tai nạn bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối cải, day dứt về hành vi của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt; hoàn cảnh bị cáo từ nhỏ đến lớn sống cùng ông bà ngoại Nguyễn Văn M, Trương Thị N2 ở xã H (ông bà đều được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thờ cúng bà Nguyễn Thị K là Bà mẹ Việt Nam anh hùng và 02 liệt sỹ) là người có công với cách mạng; bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự và được chính quyền địa phương đề nghị xem xét, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ khác tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có căn cứ xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự như Kiểm sát viên đề nghị.

[6] Xét bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội với lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, mối quan hệ với bị hại là bạn thân từ nhỏ, nay được đại diện gia đình bị hại tha thiết bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt... Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa để thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo được giáo dục, cải tạo tại địa phương là có căn cứ, phù hợp.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các điều, khoản, điểm; tội danh; mức hình phạt và biện pháp áp dụng là có căn cứ như đã phân tích trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về các biện pháp tư pháp: Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có yêu cầu về bồi thường thiệt hại, nên không xem xét. Cơ quan thi hành án dân sự huyện H hiện không quản lý vật chứng trong vụ án, nên không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Tiến Đ cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Đại diện của bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - VKSND huyện Hương Khê;
  • - CQĐT CA huyện Hương Khê;
  • - CQTHAHS CA huyện Hương Khê;
  • - UBND xã Hải Phú, Bố Trạch, QB;
  • - Chi cục THADS huyện Hương Khê;
  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Lưu HSVA - VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tiến Đ VPGT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger