Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM SƠN - TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HS-ST

Ngày 21/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM SƠN, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Ngọc Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: ông Vũ Xuân Dự

ông Trần Văn Nghi

- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Trần Quang Toại - Kiểm sát viên.

Ngày 21/5/2024, Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 24/2024/TLST-HS ngày 08/4/2024. Điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn; điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HS, ngày 09/5/2024 đối với:

- Bị cáo: Đỗ Văn B, sinh năm 1988, tại huyện K, tỉnh Ninh Bình; nơi ĐKHKTT: xóm C, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Chỗ ở hiện nay: Khu vực 279, thuộc áng phận xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Văn D, con bà: Đào Thị T; vợ Trần Thị H (đã ly hôn); có 02 con: con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: không.

Lịch sử bản thân: tại Bản án số 08 ngày 09/4/2015 của Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn xử phạt 11.000.000 đồng và 200.000 đồng án phí về tội “Đánh bạc”. Bị cáo đã chấp hành xong bản án.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 14/12/2023, chuyển tạm giam từ ngày 21/12/2023 tại Nhà tạm giữ - Công an huyện K. Ngày 05/01/2024 điều chuyển đến tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh N cho đến nay (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Đặng Văn H1, sinh năm 1991; nơi cư trú: xóm E, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình “vắng mặt”.

+ Anh Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1975; nơi cư trú: xóm F, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình “vắng mặt”.

+ Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1992; nơi cư trú: xóm H, xã N, huyện K, tỉnh Ninh Bình “vắng mặt”.

- Người chứng kiến: chị Trần Thị G, ông Trần Văn Q “vắng mặt”.

- Người làm chứng: anh Trần Trọng Đ1 “vắng mặt”; ông Đỗ Văn D “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do là người sử dụng ma túy và không có tiền tiêu xài cá nhân nên Đỗ Văn B nảy sinh ý định đi mua ma túy về để sử dụng và bán lại cho người khác nhằm kiếm lời. Chiều ngày 13/12/2023, B đi nhờ xe của người đi đường từ chỗ ở đến khu công nghiệp T, xã Đ, huyện K. Tại đây, B mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy loại Heroine với giá 500.000 đồng. Sau đó B mang về chia gói ma túy thành 06 phần được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng, B đã sử dụng hết 03 gói, số còn lại cất giấu với mục đích ai hỏi mua thì bán. Trong khoảng thời gian từ 11 giờ đến 13 giờ ngày 14/12/2023, B đã 02 lần bán ma túy cho Đặng Văn H1 sinh năm 1991; trú tại: xóm E, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: do quen biết nhau nên Đặng Văn H1 cùng với Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1975; trú tại: xóm F, xã K, huyện K mỗi người góp 100.000 đồng để mua ma tuý sử dụng. Khoảng 11 giờ ngày 14/12/2024, H1 điện thoại cho B hỏi mua 200.000 đồng ma túy loại Heroine, B đồng ý và hẹn H1 đến trục đường Quốc lộ 12B đoạn thuộc xóm D, xã K, huyện K. Tại đây B nhận 200.000 đồng và đưa cho H1 01 gói ma túy loại Heroine. Sau khi mua được ma túy H1 và Đ đã chia nhau sử dụng hết.

Lần thứ hai: khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày 14/12/2023, cũng bằng hình thức gọi điện thoại, H1 hỏi mua 400.000 đồng ma túy nên B đồng ý, hai bên hẹn nhau tại địa điểm lần trước. Sau đó, do Đ không có tiền góp nên cả H1 và Đ đến điểm hẹn để trao đổi lại về việc cả hai không mua ma túy của B nữa. Đến 13 giờ cùng ngày, khi B đang mang 02 gói ma túy đến để bán cho H1 thì bị Tổ công tác của Công an huyện K và Công an xã K đang làm nhiệm vụ tại khu vực này phát hiện bắt quả tang.

Thu giữ trên tay trái của Bồi 01 túi nilong màu trắng miệng túi có viền màu đỏ bên trong có 02 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng (ký hiệu QT), điện thoại di động nhãn hiệu OPPO lắp sim số “0328497478” (ký hiệu ĐT1) và số tiền 200.000 đồng (ký hiệu T1). T1 của H1 số tiền 300.000 đồng (ký hiệu T2) và điện thoại di động nhãn hiệu Masstel lắp sim số “0349.151.xxx” (ký hiệu ĐT2).

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Văn B, Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật gì liên quan đến ma túy.

Tiến hành mở niêm phong 02 gói nhỏ thu giữ của Bồi được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng có tổng khối lượng 0,15 gam (ký hiệu M) gửi trưng cầu giám định.

Tại kết luận giám định số 24/KL-KTHS-MT ngày 21/12/2023 của Phòng KTHS - Công an tỉnh N kết luận: Mẫu gửi giám định kí hiệu M có khối lượng 0,1558 gam là ma túy, loại Heroine.

Heroine (H3) có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự và là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự 9, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Bản cáo trạng số 28/CT-VKS-KS ngày 07/4/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kim Sơn truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Đỗ Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/12/2023. Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ghi số 24 bên trong có vật chứng còn lại sau giám định ký hiệu M là 0,1046 gam là ma túy loại Heroine và toàn bộ vỏ giấy gói trong gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong có 01 túi nilong màu trắng miệng có viền chỉ màu đỏ, 02 mảnh giấy bạc màu vàng và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 04 vỏ phong bì ký hiệu T1, T2, ĐT1, ĐT2. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo thu giữ của bị cáo và số tiền 200.000 đồng tiền bị cáo bán ma túy cho anh H1 lần thứ nhất cùng ngày 14/12/2023. Trả lại cho anh Đặng Văn H1 số tiền 300.000 đồng do không sử dụng vào việc phạm tội. Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi nêu trên và không có ý kiến gì khác, bị cáo không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, tội danh và điều luật áp dụng: tại phiên tòa bị cáo khai nhận là người sử dụng ma túy và không có tiền tiêu sài cá nhân, nên bị cáo nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng một phần và bán lại cho các đối tượng nghiện ma túy khác nhằm kiếm lời, cụ thể: khoảng 11 giờ ngày 14/12/2023, tại trục đường Quốc lộ 12B đoạn thuộc xóm D, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình, bị cáo có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy loại Heroine cho Đặng Văn H1 giá 200.000 đồng và cũng tại khu vực trên vào hồi 13 giờ cùng ngày 14/12/2023, bị cáo có hành vi cất giấu trong người trái phép 0,1558 gam Heroine mục đích để bán cho H1 nhằm thu lợi bất chính, nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám xét; biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng; lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; lời khai người chứng kiến; Kết luận giám định số 24 ngày 21/12/2023 của Phòng KTHS - Công an tỉnh N, đã có đủ cơ sở khẳng định: bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được 01 lần bán trái phép chất ma túy cho Đặng Văn H1 và 01 lần mang trong người trái phép 02 gói ma túy loại Heroine có tổng khối lượng 0,1558gam nhằm mục đích bán cho anh Đặng Văn H1 để thu lợi bất chính là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi đó gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự ở địa phương. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Đỗ Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, với tình tiết định khung “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma tuý.

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm".

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

b, Phạm tội 02 lần trở lên;

Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Sơn truy tố bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, lịch sử bản thân đã từng vi phạm pháp luật bị Tòa án xét xử về tội Đánh bạc.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi đối chiếu về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nguyên nhân và điều kiện phạm tội của bị cáo, thì hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật bằng hình thức cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[3] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản, không có việc làm ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[4] Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua của người đàn ông không quen biết tại khu công nghiệp thuộc xóm A, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Nếu gặp lại cũng không nhận dạng được vì không biết tên, địa chỉ của người đó. Do vậy, không có cơ sở xác minh làm rõ.

Đối với hành vi Đặng Văn H1 và Nguyễn Minh Đ đều là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 14/12/2023, cả hai thỏa thuận góp tiền mua ma túy của B để sử dụng nhưng sau đó tự ý không mua nữa trước khi B bị bắt quả tang. Do đó hành vi của H1 và Đ không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã nhắc nhở, rút kinh nghiệm và thông báo về địa phương nơi cư trú để theo dõi, quản lý.

[5] Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel thu giữ của Đặng Văn H1. Quá trình điều tra các định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1992; trú tại: xóm H, xã N, huyện K. Anh H2 không biết việc H1 mượn điện thoại để liên lạc mua ma túy. Do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã trả lại cho anh H2 chiếc điện thoại trên là đảm bảo có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với số tiền 300.000 đồng thu giữ của anh Đặng Văn H1. Quá trình điều tra xác định đây là tiền của anh H1 do lao động mà có và tự ý không mua ma túy nữa trước khi bị cáo bị bắt. Do số tiền trên không sử dụng vào việc phạm tội, cần trả lại cho anh H1 là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 01 phong bì niêm phong ghi số 24 bên trong có vật chứng còn lại sau giám định ký hiệu M là 0,1046 gam là ma túy loại Heroine và toàn bộ vỏ giấy gói trong gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong có 01 túi nilong màu trắng miệng có viền chỉ màu đỏ, 02 mảnh giấy bạc màu vàng và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 04 vỏ phong bì ký hiệu T1, T2, ĐT1, ĐT2, là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO thu giữ của bị cáo. Đây là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước

Đối với số tiền 200.000 đồng là tiền bị cáo bán ma túy cho anh H1 hồi 11 giờ cùng ngày 14/12/2023. Đây là tiền do phạm tội mà có, cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 34; Điều 45; khoản 2, khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 254; Điều 299 và Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: bị cáo Đỗ Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn B 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 14/12/2023.

2. Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ghi số 24 bên trong có vật chứng còn lại sau giám định ký hiệu M là 0,1046 gam là ma túy loại Heroine và toàn bộ vỏ giấy gói trong gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong có 01 túi nilong màu trắng miệng có viền chỉ màu đỏ, 02 mảnh giấy bạc màu vàng và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 04 vỏ phong bì ký hiệu T1, T2, ĐT1, ĐT2.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO và số tiền 200.000 đồng của bị cáo.

Trả lại cho anh Đặng Văn H1 số tiền 300.000 đồng đã thu giữ.

(Chi tiết như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/4/2024 và ủy nhiệm chi ngày 12/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Sơn).

3. Án phí: buộc bị cáo Đỗ Văn B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND huyện Kim Sơn;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - Công an huyện Kim Sơn;
  • - THADS huyện Kim Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Ngọc Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM SƠN, TỈNH NINH BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM SƠN, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger