TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 27/2024/HS-ST Ngày 21-5-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chúc Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Thanh
- Bà Nguyễn Hoa Lài
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Phan Phát Tấn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân huyện C, tỉnh Hậu Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
- Huỳnh Thanh Đ; Tên gọi khác: Không có, sinh năm: 1987, tại huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nơi đăng ký thường trú: Ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở hiện nay: Ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Làm hồ; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không, giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh D, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Kim H, sinh năm 1965; Bị cáo có vợ tên Huỳnh Thị D1 (đã chết); có một người con sinh năm 2013; bị cáo có 03 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1985 nhỏ nhất sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Ngày 16/3/2024 bị Công an phường L, thành phố N, tỉnh Hậu Giang bắt quả tang về hành vi trộm cắp tài sản; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17 tháng 3 năm 2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Tập Đoàn B1
Địa chỉ: Số E, H, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quý N
Địa chỉ: Số A, Lê Văn B, khu V, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ.
Vắng mặt.
Người làm chứng: Nguyễn Thị N1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 07 giờ 45 phút, ngày 27 tháng 9 năm 2023, Công an xã T nhận được nguồn tin về tội phạm của bà Nguyễn Thị N1. Theo đó, vào lúc 07 giờ ngày 27 tháng 9 năm 2023, bà N1 phát hiện 01 đối tượng nam thanh niên đang leo lên cột điện trước nhà bà N1 để cắt dây cáp viễn thông. Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an xã T đã xuống hiện trường và phát hiện bị cáo Huỳnh Thanh Đ đang cắt trộm dây cáp viễn thông. Đồng thời, Công an xã T đã tạm giữ 02 đoạn dây cáp viễn thông hiệu Sacom 2007 200x2x0.5, một đoạn dài 12,2m, một đoạn dài 20,2m; tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Wave RSX biển số 94K1-752.99.
Quá trình điều tra, bị cáo Huỳnh Thanh Đ khai nhận, trong quá trình đi làm việc, bị cáo phát hiện các đoạn dây cáp viễn thông gần cầu Đ bị đứt và không có ai trông coi nên đã nảy sinh ý định lấy trộm. Vì vậy, khoảng 06 giờ ngày 27 tháng 9 năm 2023, bị cáo Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Wave RSX biển số 94K1-752.99, mang theo một cây thang xếp bằng nhôm, một cây kiềm màu cam đen đi từ xã L, huyện P đến Cầu Đ, đi vòng xuống dạ cầu và đến nơi có dây cáp, bị cáo Đ lấy thang nhôm dựng lên đoạn giữa hai dây cáp và leo lên dùng cây kiềm cắt đứt đoạn dây cáp viễn thông nhãn hiệu Sacom 2007 200x2x0.5 dài 20,2m. Sau đó, Đ tiếp tục di chuyển thang đến vị trí trụ điện khác và cắt tiếp một đoạn cáp viễn thông hiệu Sacom 2007 200x2x0.5 dài 12,2m.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-ĐGTS ngày 16/01/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện C kết luận giá trị của hai đoạn cáp viễn thông hiệu Sacom 2007 200x2x0.5, một đoạn dài 20,2m và một đoạn dài 12,2m có giá trị là 2.128.680đồng.
Tại Cáo trạng số 24/CT-VKS-HCTA ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Huỳnh Thanh Đ về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Thanh Đ đã khai nhận toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Huỳnh Thanh Đ về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; phân tích hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của các bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173 điểm i, s khoản 1 Điều 51 Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh Đ từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 17 tháng 3 năm 2024.
Vật chứng thu giữ trong vụ án:
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Wave RSX màu đen xanh, biển kiểm soát 94K1-752.99 đã qua sử dụng là xe bị cáo dùng đi trộm tài sản nên đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước.
- - 01 (một) thang xếp dài 4,69m đã qua sử dụng; 01 (một) cây kìm màu cam đen, dài 0,3m đã qua sử dụng là vật dụng bị cáo dùng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
- - 02 (hai) đoạn dây cáp diễn thông nhãn hiệu Sacom 2007 200x2x0.5, gồm một đoạn dài 20,2m và một đoạn dài 12,2m đã qua sử dụng là tài sản của Viễn thông H1 nên đề nghị trả lại cho Viễn thông H1.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Việc khởi tố, điều tra của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị hại vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt. Người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người này.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo về hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tình tiết, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, chứng minh được như sau: Vào khoảng 07giờ 45 phút ngày 27 tháng 9 năm 2023, bị cáo Huỳnh Thanh Đ đã lén lút cắt hai đoạn cáp viễn thông, đoạn thứ nhất nhãn hiệu Sacom 2007 200x2x0.5 dài 20,2 mét; một đoạn nhãn hiệu Sacom 2007 200x2x0.5 dài 12,2 mét của Viễn Thông H tại ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài. Theo kết quả định giá, hai đoạn cáp viễn thông có giá trị 2.128.680đồng (hai triệu một trăm hai mươi tám ngàn sáu trăm tám mươi đồng).
Bị cáo Đ là người có năng lực trách nhiệm hình sự, tại thời điểm phạm tội, bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ.
Vì vậy, hành vi của bị cáo Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[2.3] Về mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Trong thời gian bị Cơ quan điều tra Công an huyện C cấm đi khỏi nơi cư trú lại tiếp tục đến phường L, thành phố N, tỉnh Hậu Giang thực hiện hành vi trộm cắp cáp viễn thông. Cho thấy bị cáo xem thường pháp luật nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo thành công dân tốt, thành người có ích cho xã hội.
Từ những cơ sở trên, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ đánh giá toàn bộ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, mức độ thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn, hối cải, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo trong vụ án mà có mức hình phạt thích hợp, đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo nhưng vẫn thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật.
[2.3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[2.4] Về xử lý vật chứng trong vụ án:
Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung quỹ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Wave RSX màu đen xanh, biển kiểm soát 94K1-752.99 đã qua sử dụng là xe của bị cáo dùng đi trộm tài sản.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thang xếp dài 4,69m đã qua sử dụng; 01 (một) cây kìm màu cam đen, dài 0,3m đã qua sử dụng là vật dụng bị cáo dùng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và không còn giá trị.
Đối với 02 (hai) đoạn dây cáp diễn thông nhãn hiệu Sacom 2007 200x2x0.5, gồm một đoạn dài 20,2m và một đoạn dài 12,2m đã qua sử dụng là tài sản của Viễn thông Hậu Giang nên Hội đồng xét xử trả lại cho Viễn thông H1.
[2.5] Về án phí: Bị cáo Đ phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[3] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A là có căn cứ, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thanh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173 điểm i, s khoản 1 Điều 51 Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh Đ 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 17 tháng 3 năm 2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo Huỳnh Thanh Đ 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 21 tháng 5 năm 2024 để đảm đảm bảo cho việc thi hành án. - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung quỹ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Wave RSX màu đen xanh, biển kiểm soát 94K1-752.99 đã qua sử dụng là xe của bị cáo dùng đi trộm tài sản.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thang xếp dài 4,69m đã qua sử dụng; 01 (một) cây kìm màu cam đen, dài 0,3m đã qua sử dụng là vật dụng bị cáo dùng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và không còn giá trị.
Trả lại cho Viễn thông H1 (hai) đoạn dây cáp diễn thông nhãn hiệu Sacom 2007 200x2x0.5, gồm một đoạn dài 20,2m và một đoạn dài 12,2m đã qua sử dụng. - Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án, bị cáo Huỳnh Thanh Đ phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Huỳnh Thanh Đ có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Chúc Linh |
Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 27/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bị cáo có tội, xử phạt bị cáo 09 tháng tù
