Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HS-ST

Ngày: 10 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Quỳnh Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lò Quốc Việt
  2. Ông Hoàng Ngọc Hùng

- Thư ký phiên toà: Ông Cầm Việt Hùng, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Mai Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 11/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/QĐXXST-HS ngày 28/11/2024 đối với các bị cáo:

1. Lường Duy T4. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 16/8/1991 tại thành phố S, tỉnh Sơn La. Nơi ĐKHKTT: Bản G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Lường Thế T, sinh năm 1954, con bà Cà Thị M, sinh năm 1973; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 16/5/2022, Công an Phường Q, thành phố S đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma tuý tỉnh Sơn La 20 tháng.

Nhân thân: Tại bản án số 50/2017/HSST ngày 28/3/2017 của Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã được xoá án tích).

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2024. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Hoàng Đức H. Tên gọi khác: Không, Sinh ngày 25/12/1990 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKNKTT: Tổ G, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Hoàng Đình H1, sinh năm 1963 và bà Tòng Thị K, sinh năm 1966; Bị cáo có vợ là Lường Thị T1, sinh năm 1996 và 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại bản án số 87/2018/HSST ngày 07/6/2018 của Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (đã được xoá án tích).

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2024. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

3. Quàng Văn H2. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 04/8/1985 tại thành phố S, tỉnh Sơn La. Nơi ĐKHKTT: Bản L, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Nơi ở hiện tại: Bản C, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Quàng Văn S, sinh năm 1964, con bà Tòng Thị L, sinh năm 1967; Bị cáo có vợ là Hà Thị T2, sinh năm 1991 (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án: Tại bản án số 122/2020/HSST ngày 28/8/2020 của Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 36 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 62/2008/HSST ngày 14/5/2008 của Toà án nhân dân thị xã Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma tuý (đã được xoá án tích).

Tại bản án số 159/2013/HSST ngày 13/8/2013 của Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã được xoá án tích).

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2024. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Cà Thị M, sinh năm 1973, địa chỉ: Bản G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
  • - Ông Lường Văn T3, sinh năm 1974, địa chỉ: Bản G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
  • - Chị Lường Thị T1, sinh năm 1996, địa chỉ: Tổ G, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 15 phút ngày 07/8/2024, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, ma tuý Công an thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực bản G, thành phố S thì phát hiện một người nam giới mặc áo phông đang đi bộ ở ven đường có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma tuý. Tổ công tác đã mời người chứng kiến và tiến hành kiểm tra hành chính đối với người nam giới này. Quá trình kiểm tra, người nam giới khai tên là Lường Duy T4, sinh năm 1991, cư trú tại Bản G, phường Q, thành phố S và tự giác giao nộp từ trong lòng bàn tay trái 01 gói nilon màu xanh mở ra bên trong có chứa chất cục bột màu trắng (T4 khai nhận là ma tuý Heroine nhờ Hoàng Đức H, sinh năm 1990, cư trú tại tổ G, phường T, thành phố S mua giúp để sử dụng). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lường Duy T4 về hành vi cất giữ trái phép chất nghi là ma tuý và thu giữ vật chứng theo quy định. Tạm giữ của Lường Duy T4 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31 màu xanh trắng, có số IMEI có 05 số cuối 99986, bên trong lắp sim điện thoại của nhà mạng Viettel có số thuê bao 0867410754.

Cùng ngày 07/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S tiến hành kiểm tra điện thoại của Lường D, kết quả: Trong ứng dụng Zalo phát hiện nội dung nhắn tin với tài khoản tên “Hùng Hiệp” với nội dung trao đổi mua bán ma tuý; Trong ứng dụng H3 phát hiện số tài khoản 0867410754 mang tên Cà Thị M có hai giao dịch chuyển khoản (vào lúc 13:07 và 15:58) đến tài khoản ngân hàng TMCP V (V1 ) số 0834134567 mang tên HOANG DUC HUNG (mỗi lần chuyển 300.000₫).

Căn cứ lời khai của Lường Duy T4, ngày 07/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã tiến hành xác minh, triệu tập lấy lời khai đối với Hoàng Đức H, sinh năm 1990, trú tại Tổ G, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La. Tại cơ quan điều tra H khai nhận phù hợp với lời khai của Lường Duy T4 và khai ngày 07/8/2024 đã mua 600.000₫ ma tuý Heroine từ Quàng Văn H2, sinh năm 1985, trú tại Bản L, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Đức H, thu giữ 01 chiếc điện thoại di động SAMSUNG Galaxy A32, màu đen, IMEI có 05 số cuối là 37741, bên trong lắp 01 sim điện thoại có số thuê bao 0834134567.

Ngày 08/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S tiến hành kiểm tra điện thoại của Hoàng Đức H, kết quả: Trong ứng dụng Zalo phát hiện nội dung nhắn tin với tài khoản tên “Lường Duy T4” với nội dung trao đổi mua bán ma tuý”. Trong ứng dụng V1 phát hiện có số tài khoản 0834134567 mang tên HOANG DỤC HUNG có 02 giao dịch chuyển khoản đến (vào lúc 13:07 và 15:58, phù hợp với biên bản kiểm tra điện thoại của Lường D) và 01

giao dịch chuyển khoản số tiền 600.000đ tới tài khoản ngân hàng TMCP Đ (B) số 4110396607 mang tên Quàng Văn H2.

Căn cứ lời khai của Hoàng Đức H, ngày 08/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã tiến hành xác minh, triệu tập lấy lời khai đối với Quàng Văn H2. Tại cơ quan điều tra H2 khai nhận hành vi ngày 07/8/2024 bán ma tuý Heroine cho Hoàng Đức H số tiền 600.000đ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Quàng Văn H2, thu giữ: 02 gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất cục, bột màu trắng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max màu đen, có 05 số cuối IMEI là 95157, bên trong lắp 01 thẻ sim điện thoại nhà mạng Viettel có số thuê bao là 0354657899. Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S tiến hành kiểm tra điện thoại của Quàng Văn H2, kết quả: Trong dữ liệu cuộc gọi có dữ liệu cuộc gọi với số thuê bao 0834134567 lưu tên “Hùng Hiệp”. Trong ứng dụng B phát hiện số tài khoản 4110396607 mang tên QUANG VAN HA có 01 lần giao dịch nhận số tiền 600.000đ từ số tài khoản 0834134567 với nội dung “HOANG DUC HUNG chuyen tien”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lường D, Hoàng Đức H, Quàng Văn H2 khai nhận:

Vào khoảng 21 giờ ngày 06/8/2024, Quàng Văn H2 đón xe taxi đi một mình từ nhà tại bản C, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La đến khu vực Bản H, xã T, huyện T tỉnh Sơn La để tìm mua ma tuý sử dụng và bán kiếm lợi nhuận. Tại đây, H2 gặp một người nam giới không quen biết đứng ở ven đường nhìn giống người nghiện ma tuý. Qua trao đổi thoả thuận với người nam giới đó, H2 mua được 01 gói nilon màu xanh, bên trong chứa ma tuý Heroine với số tiền 1.000.000đ. H2 cất gói ma tuý vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi quay lại đón xe taxi đi về nhà. Về đến nhà, H2 lấy một phần ma tuý ra sử dụng, số ma tuý còn lại H2 chia là ba phần và dùng nilon màu xanh ban đầu gói lại rồi cất vào trong túi quần bên phải phía trước đang mặc để bán kiếm lợi nhuận.

Ngày 07/8/2024, Lường Duy T4 sử dụng điện thoại nhắn tin qua ứng dụng Zalo nhờ Hoàng Đức H mua hộ 600.000₫ ma tuý Heroine, H đồng ý. T4 sử dụng tài khoản ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H (H3) có số 0867410754 mang tên CA THỊ MAI chuyển khoản 02 lần (mỗi lần 300.000₫) đến tài khoản ngân hàng TMCP V (V1) số 0834134567 mang tên HOANG DỤC HUNG của Hoàng Đức H.

Sau khi nhận được tiền, Hoàng Đức H gọi điện cho Quàng Văn H2 để hỏi mua ma tuý, H2 và H chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng TMCP Đ (B) số 4110396607 mang tên QUANG VAN HA của H2. H sử dụng tài khoản ngân hàng V1 số 0834134567 của H chuyển khoản số tiền 600.000₫ đến số tài khoản ngân hàng H2 cung cấp. Sau khi nhận được tiền H2 lấy 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa ma tuý Heroine trong túi quần đang mặc cho vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng rồi cầm ở tay đi bộ đến khu vực đầu ngõ

dân sinh đối diện vườn hoa phía sau Quảng trường T (thuộc tổ G, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La, gần khu nhà ở của H). H2 để bao thuốc lá chứa gói ma tuý trên vỉa hè gần đầu ngõ và gọi điện thoại cho H mô tả vị trí cất giấu ma tuý cho H rồi đi bộ về nhà.

H đi bộ ra chỗ H2 đã hẹn lấy gói ma tuý và vứt vỏ bao thuốc lá lại rồi đi bộ ra đường cạnh khuôn viên vườn hoa gọi điện thoại cho T4 đến lấy ma tuý. Khoảng 10 phút sau, T4 đi bộ đến chỗ H đang đứng chờ. H đưa gói ma tuý cho T4 rồi đi bộ về nhà. T4 cầm gói ma tuý trong lòng bàn tay trái đi bộ tìm nơi sử dụng, đi đến khu vực bản G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng vật chứng.

Ngày 08/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Lường Duy T4 và vật chứng thu giữ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Quàng Văn H2, kết quả:

Số cục bột màu trắng trong gói nilon màu xanh thu giữ khi bắt quả tang Lường Duy Tân có khối lượng 0,19 gam; lấy 0,03 gam cục bột màu trắng cho vào túi nilon màu xanh dán kín lại làm mẫu giám định, ký hiệu T1. Còn lại 0,16 gam cục bột màu trắng cho vào túi nilon màu xanh dán kín lại làm mẫu lưu kho, ký hiệu H1.

Số cục bột màu trắng trong gói nilon màu xanh thứ nhất thu giữ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Quàng Văn H2 có khối lượng 0,16 gam; lấy 0,05 gam cục bột màu trắng cho vào túi nilon màu xanh dán kín lại làm mẫu giám định, ký hiệu T2. Còn lại 0,11 gam cục bột màu trắng cho vào túi nilon màu xanh dán kín lại làm mẫu lưu kho, ký hiệu H2.

Số cục bột màu trắng trong gói nilon màu xanh thứ hai thu giữ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Quàng Văn H2 có khối lượng 0,29 gam; lấy 0,12 gam cục bột màu trắng cho vào túi nilon màu xanh dán kín lại làm mẫu giám định, ký hiệu T3. Còn lại 0,17 gam cục bột màu trắng cho vào túi nilon màu xanh dán kín lại làm mẫu lưu kho, ký hiệu H3.

Kết luận giám định số 1568/KL-KTHS ngày 09/8/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh S, kết luận: Mẫu ký hiệu T1, T2, T3 gửi giám định là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là T1 = 0,03 gam; T2 = 0,05 gam; T3 = 0,12 gam Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,64 gam; loại Heroine. Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Tại bản Cáo trạng số 522/CT-VKSTP ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Quàng Văn H2 về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015; truy tố bị cáo Lường Duy T4, Hoàng Đức H về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Quàng Văn H2, Lường D, Hoàng Đức H khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Các bị cáo nhất trí nội dung cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội.

Tại phiên toà, người liên quan Lường Thị T1 trình bày: H sử dụng số thuê bao 0834134567 từ trước tới nay, do nhà mạng yêu cầu đăng ký chính chủ nên chị T1 mang số thuê bao trên của H đi đăng ký bằng căn cước công dân của chị T1. Chị T1 không biết việc H sử dụng số thuê bao này vào hành vi phạm tội.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Quàng Văn H2 từ 28 tháng đến 34 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1 điều 51, điều 17, điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lường Duy T4 từ 16 tháng đến 21 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 17, điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hoàng Đức H từ 14 đến 19 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì công văn Công an thành phố S niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong. Mặt trước ghi “Vật chứng lưu kho vụ Quàng Văn H2 và đồng phạm – Mua bán, Tàng trữ trái phép chất ma tuý ngày 07/8/2024. Gồm: 02 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 03 mảnh nilon màu xanh, mẫu lưu H1 = 0,16 gam; H2 = 0,11 gam; H3 = 0,17 gam.". Mặt sau phong bì có dán giấy niêm phong số 0075139 có ghi: “Cơ quan CSĐT-CATP Sơn La hồi 07 giờ 20 phút ngày 08/8/2024 tại CATP Sơn La”; 03 sim của nhà mạng Viettel có số thuê bao 0867410754; 0834134567; 0354657899.
  • + Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Oppo A31, màu xanh trắng, số IMEI có 05 số cuối là 99986, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32 màu đen, số IMEI có 05 số cuối là 37741, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen, số IMEI có 05 số cuối là 95157, đã qua sử dụng.
  • + Đề nghị truy thu số tiền 600.000đ của bị cáo Quàng Văn H2 để sung quỹ nhà nước.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa, các bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo: Tại quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đều thừa nhận:

Quàng Văn H2, Lường D, Hoàng Đức H là các đối tượng sử dụng chất ma tuý. Ngày 06/8/2024, Quàng Văn H2 mua được 01 gói ma tuý với số tiền 1.000.000đ của một người nam giới không quen biết tại khu vực bản Hôm, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La. Sau khi mua được ma tuý, H2 lấy một phần ma tuý ra sử dụng, số ma tuý còn lại H2 chia ra làm ba phần và dùng nilon màu xanh ban đầu gói lại rồi cất vào trong túi quần bên phải phía trước đang mặc để bán kiếm lợi nhuận.

Ngày 07/8/2024, Lường Duy T4 nhờ Hoàng Đức H mua giúp ma tuý Heroine với số tiền 600.000đ, H đồng ý. H liên lạc với Quàng Văn H2 và mua được của H2 01 gói ma tuý Heroine với số tiền 600.000đ. Sau khi mua được ma tuý, H đi bộ ra đường cạnh khuôn viên vườn hoa và gọi điện thoại cho T4 đến lấy ma tuý. Khoảng 10 phút sau, T4 đi bộ đến chỗ H đang chờ, H đưa gói ma tuý cho T4 rồi đi bộ về nhà. T4 cầm gói ma tuý trong lòng bàn tay trái đi bộ tìm nơi sử dụng, khi đến khu vực bản G, phường Q, thành phố S thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

  • - Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 17 giờ 30 phút ngày 07/8/2024 tại bản G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Lường D;
  • - Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp hồi 02 giờ 20 ngày 08/8/2024 tại Ủy ban nhân dân Phường T, thành phố S tỉnh Sơn La đối với Hoàng Đức H;
  • - Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp hồi 04 giờ 45 ngày 08/8/2024 tại Ủy ban nhân dân Phường C, thành phố S tỉnh Sơn La đối với Quàng Văn H2;
  • - Kết luận giám định số 1568/KL-KTHS ngày 09/8/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh S, kết luận: Mẫu ký hiệu T1, T2, T3 gửi giám định là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là T1 = 0,03 gam; T2 = 0,05 gam; T3 = 0,12 gam Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,64 gam; loại Heroine. Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
  • - Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với kết quả điều tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở kết luận: bị cáo Quàng Văn H2 phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo Lường Duy T4, Hoàng Đức H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:

[3.1] Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo:

Các bị cáo Lường Duy T4, Hoàng Đức H nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng ngày 07/8/2024 vẫn cố ý thực hiện hành vi cất giấu trái phép 0,19 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân (bị cáo T4 là người chủ động khởi xướng nhờ bị cáo H đi mua ma tuý hộ bị cáo T4 để bị cáo T4 sử dụng. Bị cáo H là người trực tiếp đi mua ma tuý giúp T4 mục đích để T4 sử dụng). Bị cáo Quàng Văn H2 thực hiện hành vi mua bán trái phép 0,64 gam heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân và bán kiếm lợi nhuận (bao gồm 01 gói ma tuý có khối lượng 0,19 gam thu giữ của bị cáo T4 do bị cáo H2 đã bán cho bị cáo H để mang về cho T4 sử dụng, và 02 gói ma tuý thu giữ khi bắt giữ bị cáo H2 có khối lượng 0,16gam và 0,29 gam, bị cáo H2 đã chia vào 02 gói nilon màu xanh cất giữ để nhằm mục đích bán kiếm lời).

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự an ninh và an toàn xã hội tại địa phương. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo giáo dục riêng, phòng ngừa chung.

[3.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Quàng Văn H2 thành khẩn khai báo, nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đối với bị cáo Lường Duy T4 trong quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện

tội phạm. Vì vậy bị cáo T4 được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đối với bị cáo Hoàng Đức H trong quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm. Bị cáo có bố đẻ là ông Hoàng Đình H1 được Chủ tịch UBND tỉnh S tặng Bằng khen có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ các năm 2011, năm 2014, năm 2018. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3.3] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Lường Duy T4, Hoàng Đức H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Quàng Văn H2 có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015: tái phạm.

[3.4] Về nhân thân: Bị cáo Lường Duy T4 có 01 tiền sự ngày 16/5/2022 công an phường Q, thành phố S đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma tuý tỉnh Sơn La 20 tháng; có 01 lần bị Toà án nhân dân thành phố Sơn La xử 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Bị cáo Hoàng Đức H đã bị Toà án nhân dân huyện Sông Mã xử phạt 36 tháng tù treo về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Bị cáo Quàng Văn H2 có 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma tuý (là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015), nhân thân có 02 lần bị xét xử về tội Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý.

[4] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã được phân tích ở trên, xét thấy:

Bị cáo Lường Duy T4 là người chủ động khởi xướng nhờ bị cáo Hoàng Đức H đi mua ma tuý hộ bị cáo T4 để bị cáo T4 sử dụng. Bị cáo H là người trực tiếp đi mua ma tuý giúp T4 mục đích để T4 sử dụng. Hai bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn nên phải chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau đối với khối lượng 0,19 gam ma tuý thu giữ của Lường D. Tuy nhiên, đối với bị cáo Hoàng Đức H có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử cân nhắc mức hình phạt nhẹ hơn bị cáo Lường Duy T4.

Đối với Quàng Văn H2 đã có hành vi mua bán trái phép 0,64 gam ma tuý Heroine (bao gồm 02 gói nilon màu xanh bị thu giữ khi bắt Quàng Văn H2 và 01 gói ma tuý Heorine thu giữ khi bắt quả tang Lường D), mục đích để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lợi nhuận.

Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự bằng một hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo. Phải cách ly các bị cáo một thời gian đủ để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời để răn đe,

phòng ngừa chung tội phạm.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Đối với nguồn gốc 0,64 gam Heroine: quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Quàng Văn H2 khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bản T, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La với giá 1.000.000đ. Ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.

[7] Đối với những người có liên quan:

Đối với tài khoản ngân hàng H3 số 0867410754 mang tên CA THI MAI: Trên cơ sở điều tra xác minh đã xác định chủ tài khoản là bà Cà Thị M, sinh năm 1973, trú tại bản G, thành phố S, tỉnh Sơn La là mẹ của bị cáo Lường Duy T4. Bà M cho T4 mượn căn cước công dân để mở tài khoản ngân hàng do T4 chưa được cấp căn cước công dân. Tuy nhiên bà M không sử dụng và không biết T4 sử dụng tài khoản này vào hành vi phạm tội. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm là phù hợp, đúng quy định.

Đối với sim số thuê bao 0867410754, quá trình điều tra xác định chủ số thuê bao tên Lường Văn T3, sinh năm 1974, cư trú tại Bản G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La là chú ruột của Lường Duy T4. Anh T3 đăng ký sử dụng số thuê bao này từ năm 2021, sau khi đăng ký khoảng 01 tháng hết chương trình khuyến mại thì anh T3 vứt bỏ sim điện thoại đi, đến nay anh T3 không sử dụng số thuê bao này nữa. Anh T3 không biết việc T4 sử dụng số thuê bao này vào hành vi phạm tội. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm là phù hợp, đúng quy định.

Đối với số thuê bao 0834134567, quá trình điều tra xác định chủ số thuê bao tên Lường Thị T1, sinh năm 1996, cư trú tại tổ G, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La là vợ của bị cáo Hoàng Đức H. Bị cáoHùng sử dụng số thuê bao này từ trước tới nay, do nhà mạng yêu cầu đăng ký chính chủ nên chị T1 mang số thuê bao trên của H đi đăng ký bằng căn cước công dân của chị T1. Chị T1 không biết việc H sử dụng số thuê bao này vào hành vi phạm tội. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm là phù hợp, đúng quy định.

[8] Về vật chứng vụ án:

  • - Đối với 01 phong bì công văn Công an thành phố S niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong. Mặt trước ghi “Vật chứng lưu kho vụ Quàng Văn H2 và đồng phạm – Mua bán, Tàng trữ trái phép chất ma tuý ngày 07/8/2024. Gồm: 02 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 03 mảnh nilon màu xanh, mẫu lưu H1 = 0,16 gam; H2 = 0,11 gam; H3 = 0,17 gam.”. Mặt sau phong bì có dán giấy niêm phong số 0075139 có ghi: “Cơ quan CSĐT-CATP

Sơn La hồi 07 giờ 20 phút ngày 08/8/2024 tại CATP Sơn La”; 03 sim của nhà mạng Viettel có số thuê bao 0867410754; 0834134567; 0354657899. Xét thấy là những vật cấm tàng trữ, lưu hành, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Đối với 01 điện thoại di động Oppo A31, màu xanh trắng, số IMEI có 05 số cuối là 99986, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32 màu đen, số IMEI có 05 số cuối là 37741, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen, số IMEI có 05 số cuối là 95157, đã qua sử dụng. Xét thấy đây là phương tiện các bị cáo dùng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Đối với số tiền 600.000₫ bị cáo Hoàng Đức H chuyển vào tài khoản tài khoản ngân hàng TMCP Đ (B) số 4110396607 mang tên QUANG VAN HA của Quàng Văn H2 nhằm mục đích mua bán trái phép chất ma túy nên cần truy thu sung quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Quàng Văn H2 phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý, các bị cáo Lường D, Hoàng Đức H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Quàng Văn H2 28 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 08/8/2024.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1 Điều 51, điều 17, điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lường Duy T4 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 07/8/2024.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 17 điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hoàng Đức H 14 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 08/8/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a,b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

  • - Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn Công an thành phố S niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong. Mặt trước ghi “Vật chứng lưu kho vụ Quàng Văn H2 và đồng phạm – Mua bán, Tàng trữ trái phép chất ma tuý ngày 07/8/2024. Gồm: 02 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 03 mảnh nilon màu xanh, mẫu lưu H1 = 0,16 gam; H2 = 0,11 gam; H3 = 0,17 gam.”. Mặt sau phong bì có dán giấy niêm phong số 0075139 có ghi: “Cơ quan CSĐT-CATP Sơn La hồi 07 giờ 20 phút ngày 08/8/2024 tại CATP Sơn La”; 03 sim của nhà mạng Viettel có số thuê bao 0867410754; 0834134567; 0354657899.
  • - Tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Oppo A31, màu xanh trắng, số IMEI có 05 số cuối là 99986, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32 màu đen, số IMEI có 05 số cuối là 37741, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen, số IMEI có 05 số cuối là 95157, đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 11 năm 2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).

  • - Truy thu số tiền 600.000đ của bị cáo Quàng Văn H2 để sung quỹ Nhà nước.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Buộc bị cáo Quàng Văn H2, Lường D, Hoàng Đức H mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 331, khoản 1 điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/12/2024). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/12/2024), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Sơn La;
  • - Công an thành phố Sơn La;
  • - Trại giam Công an tỉnh Sơn La;
  • - Chi cục THADS thành phố Sơn La;
  • - THA hình sự;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ; án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đào Thị Quỳnh Trang

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lò Quốc Việt

Hoàng Ngọc Hùng

Đào Thị Quỳnh Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Quàng Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý, các bị cáo Lường Duy T, Hoàng Đức H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy:
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger