|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2024/HS-ST
Ngày 08/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- + Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Vĩnh Long.
- + Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Anh.
- Ông Nguyễn Văn Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Linh – Thư Ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện VKSND huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Ông Trình Ngọc T - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 25/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn P
(Tên gọi khác: Phong Đen) - Sinh ngày 01/01/1978 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 05/12; Con ông Lê B (chết) và bà Nguyễn Thị T1 (chết); Vợ tên Võ Thị Ánh T2, sinh năm 1980, có 02 con, sinh năm 1999 và năm 2002; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 09/6/2020 bị TAND tỉnh Phú Yên xử phạt 02 năm tù về tội Tổ chức đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 322 BLHS (chấp hành xong ngày 01/9/2022); Nhân thân: Ngày 24/11/2008 bị TAND huyện Đồng Xuân xử phạt 09 tháng tù về tội Đánh bạc quy định tại khoản 2 Điều 248 BLHS năm 1999 (chấp hành xong ngày 15/02/2009). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Mang N - Sinh năm: 2002;
- M - Sinh năm: 1980;
- M - Sinh năm: 1988;
- M - Sinh năm: 2004;
- M - Sinh năm: 2004;
- Mang Văn C - Sinh năm: 2002;
- M - Sinh năm: 2009 - Người đại diện Mang B1, sinh năm: 1986;
- Nguyễn Văn H - Sinh năm: 2008 – Người đại diện Nguyễn Văn D, sinh năm: 1981;
- M - Sinh năm: 2010 – Người đại diện Mang M, sinh năm: 1991;
- M - Sinh năm: 2009 – Người đại diện Nguyễn Văn T3, sinh năm: 1974;
- Nguyễn Thanh P1 - Sinh năm: 2010 – Người đại diện Mang Thị N1, sinh năm: 1984;
- M - Sinh năm: 2010 – Người đại diện Mang N2, sinh năm: 1980;
Cùng trú tại: Thôn S, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Tất cả vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn P có một tiền án về tội Tổ chức đánh bạc, vào ngày 30/01/2024 đã tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức xóc bầu cua cùng với các đối tượng khác, cụ thể như sau: Khoảng 09h00' ngày 30/01/2024, Mang N đến tiệm tạp hóa của bà Mai Thị Phương L mua bộ dụng cụ để phục vụ cho việc đánh bạc. Sau đó, N mang bộ dụng cụ này đến đường bê tông liên thôn phía trước nhà văn hóa thuộc thôn S- xã X- huyện Đ và trực tiếp làm cái xóc bầu cua thắng thua bằng tiền. Trong khoảng thời gian từ 09h00' đến 21h30' ngày 30/01/2024, các đối tượng Lê Văn P, Mang Nút, Mang Văn C, M, Mang D1, M, Mang N, Mang Nhuẫn, M, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thanh P1 và một số đối tượng khác đến tham gia đánh bạc. Riêng Đoàn Văn S, Nguyễn Hữu V có đến xòng bạc để xem nhưng không tham gia đánh bạc.
Trong quá trình đánh bạc, một người sẽ làm cái hoặc hai người góp tiền để làm cái, những người còn lại sẽ tham gia đặt tiền (riêng Lê Văn P không làm cái). Mỗi người tham gia đặt tiền từ 2.000 đồng/ván đến 200.000 đồng/ván. Tổng số tiền trên chiếu bạc giao động từ 30.000 đồng/ván đến 270.000 đồng/ván. Quá trình đánh bạc, những đối tượng làm cái có cho tiền những đối tượng khác để làm nhiệm vụ canh gác.
Việc đánh bạc diễn ra liên tục đến khoảng 22h00' cùng ngày thì bị Công an xã X kiểm tra phát hiện thu giữ tại chiếu bạc số tiền 270.000 đồng, thu giữ trên người các đối tượng số tiền 1.465.000 đồng và những đối tượng chạy thoát nộp lại số tiền 2.200.000 đồng.
Tổng số tiền đánh bạc là 3.935.000 đồng gồm: Lê Văn P 300.000 đồng, M1 1.230.000 đồng (trong đó có số tiền 230.000 đồng cho Mang N3, Mang Q, M và Nguyễn Văn H để canh gác), Mang Dựng 670.000 đồng (trong đó có số tiền 50.000 đồng cho Mang Nô), Mang Nút 10.000 đồng, Mang Văn C 1.455.000 đồng (trong đó có 100.000 đồng đặt trên chiếu bạc), Mang L1 100.000 đồng, Mang Nhi 5.000 đồng đặt trên chiếu bạc.
Tại bản Cáo trạng số: 25/CT-VKS-ĐX ngày 14/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên truy bị cáo Lê Văn Phong về tội Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.
* Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đã nêu. Kết luận bị cáo Lê Văn P phạm tội “Đánh bạc”. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét:
- - Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Lê Văn P. Xử phạt bị cáo Lê Văn P từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 106 BLTTHS:
- + Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 3.935.000 đồng (ba triệu chín trăm ba mươi lăm nghìn đồng) mà bị cáo và các đối tượng tham gia đánh bạc.
- + Tịch thu tiêu hủy: Các vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội và vật chứng không có giá trị sử dụng.
- + Trả lại tài sản cho chủ sở hữu xe mô tô, giấy đăng ký xe mô tô, điện thoại di động không phải là công cụ, phương tiện phạm tội.
* Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, bị cáo không tranh luận gì với Kiểm sát viên, bị cáo xin HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa, vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng xét thấy đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 BLTTHS.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và các vật chứng thu giữ được, đủ cơ sở kết luận: Lê Văn P có một tiền án về tội Tổ chức đánh bạc, trong khoảng thời gian từ 09h00' đến 21h30' ngày 30/01/2024 tại thôn S- xã X- huyện Đ đã tham gia đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức xóc bầu cua cùng với các đối tượng Mang N, Mang N4, Mang Văn C, M, Mang D1, M, Mang N, Mang Nhuẫn, M, Nguyễn Văn H và Nguyễn Thanh P1. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 3.935.000 đồng, nên hành vi của bị cáo Lê Văn P đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 25/CT-VKSĐX ngày 14/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Lê Văn P về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi đánh bạc trái phép là một tệ nạn, gây ra nhiều tác hại xấu cho xã hội, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng bị kết án về tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc nhưng bị cáo không biết tự sửa chữa hành vi của mình mà lại tiếp tục thực hiện việc đánh bạc trái phép, thể hiện ý thức tự cải tạo kém nên cần xét xử bị cáo với mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tổng số tiền đánh bạc của tất cả các đối tượng dưới mức tối thiểu của khung 1 điều 321 BLHS và riêng bị cáo chỉ sử dụng số tiền 300.000 đồng để đánh bạc; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã nộp lại số tiền đánh bạc, trong đó có 30.000 đồng tiền thu lợi bất chính. Đây là những tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS nên xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm ở khung hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, xã hội như lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp. Xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Đối với Mang Nút, Mang N, Mang N, Mang Dựng, Mang L1, Mang Văn C, Mang N3, M, Nguyễn Văn H: Tham gia đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng và không có yếu tố định tội khác nên hành vi không cấu thành tội phạm. Công an huyện Đ xử phạt hành chính là đúng pháp luật.
- Đối với Mang Định (sinh ngày 24/3/2010); Nguyễn Thanh P1 (sinh ngày 30/5/2010); Mang Nhị (sinh ngày 06/5/2010): Có hành vi tham gia đánh bạc nhưng các đối tượng này dưới 14 tuổi nên không xem xét xử lý hành chính là phù hợp.
- Đối với Đoàn Văn S, Nguyễn Hữu V: Có mặt tại sòng bạc, nhưng không tham gia vào việc đánh bạc nên không xem xét xử lý.
[5] Về vật chứng vụ án:
- Tiền Ngân hàng N6: 3.935.000 đồng (ba triệu chín trăm ba mươi lăm nghìn đồng), trong đó thu giữ trên chiếu bạc 270.000 đồng, thu giữ trên người các đối tượng thời điểm bị phát hiện, lập biên bản 1.465.000 đồng, thu giữ của bị can và các đối tượng liên quan tự nguyện giao nộp: 2.200.000 đồng, đây là tiền bị cáo và những người liên quan sử dụng để đánh bạc, nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- 01 (một) bộ chén đĩa bằng nhôm màu trắng sáng; 01 (một) mảnh giấy hình chữ nhật bị rách rời làm hai, phía trên có in hình B2, C1, T4, C2, G, N5; 03 (ba) hội bằng xốp hình lập phương có 06 mặt đều nhau, in hình Bầu, C1, T4, C2, G, N5; 01 (một) cái đèn pin đội đầu màu vàng; 01 (một) đôi dép nhựa màu trắng, trên vai dép có in dòng chữ “GIDA SPORT"; 01 (một) đôi dép Sandal màu đen, không có quai hậu, trên vai dép có dòng chữ “NIKE”; 01 (một) đôi dép lê màu đen, trên mỗi chiếc dép có 02 sợi dây vai; 01 (một) đôi dép màu đen xám, loại 02 sợi dây vai, trên dây vai có in dòng chữ “SPORT” và thân dép có in dòng chữ “MEN”; 01 (một) đôi dép da màu đen; 01 (một) cái áo thun ngắn tay, không có cổ màu xám đen đã bị rách rời ở bên hông áo, trên ngực áo có in chữ “Adidas” màu trắng là công cụ, phương tiện phạm tội và vật chứng không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) xe mô tô, S1, R, biển số: 78K1- 241.93 của Mang L1 và 01 giấy đăng ký xe mô tô, biển số: 78K1-241.93 mang tên Mang Lâm; 01 (một) điện thoại di động Smartphone, hiệu Realme màu đen, bên trong có 01 thẻ sim, có số thuê bao 0382646976 của Mang Văn C; 01 (một) điện thoại N7 màu đen, bên trong có 01 thẻ sim, có số thuê bao 0336589742 của Mang Nút; 01 (một) điện thoại Iphone 6 màu trắng, vàng đồng, bên trong có chứa 01 thẻ sim, có số thuê bao: 0345442408 của Mang Nhi, các vật chứng này không phải là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội hoặc có liên quan đến việc phạm tội, nên trả lại cho chủ sở hữu.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn P phạm tội “Đánh bạc”.
1. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Lê Văn P. Xử phạt bị cáo Lê Văn P 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng).
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 3.935.000 đồng (ba triệu chín trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ chén đĩa bằng nhôm màu trắng sáng; 01 (một) mảnh giấy hình chữ nhật bị rách rời làm hai, phía trên có in hình B2, C1, T4, C2, G, N5; 03 (ba) hội bằng xốp hình lập phương có 06 mặt đều nhau, in hình Bầu, C1, T4, C2, G, N5; 01 (một) cái đèn pin đội đầu màu vàng; 01 (một) đôi dép nhựa màu trắng, trên vai dép có in dòng chữ “GIDA SPORT"; 01 (một) đôi dép Sandal màu đen, không có quai hậu, trên vai dép có dòng chữ “NIKE”; 01 (một) đôi dép lê màu đen, trên mỗi chiếc dép có 02 sợi dây vai; 01 (một) đôi dép màu đen xám, loại 02 sợi dây vai, trên dây vai có in dòng chữ “SPORT” và thân dép có in dòng chữ “MEN”; 01 (một) đôi dép da màu đen; 01 (một) cái áo thun ngắn tay, không có cổ màu xám đen đã bị rách rời ở bên hông áo, trên ngực áo có in chữ “Adidas” màu trắng.
- - Trả lại tài sản cho chủ sở hữu:
- + Trả lại cho Mang L1 01 (một) xe mô tô, S1, R, biển số: 78K1- 241.93 của Mang L1 và 01 giấy đăng ký xe mô tô, biển số: 78K1-241.93.
- + Trả lại cho Mang Văn Chánh 01 (một) điện thoại di động Smartphone, hiệu Realme màu đen, bên trong có 01 thẻ sim, có số thuê bao: 0382646976.
- + Trả lại cho Mang Nút 01 (một) điện thoại Nokia màu đen, bên trong có 01 thẻ sim, có số thuê bao 0336589742.
- + Trả lại cho Mang N 01 (một) điện thoại Iphone 6 màu trắng, vàng đồng, bên trong có chứa 01 thẻ sim, có số thuê bao: 0345442408.
(Số tiền theo ủy nhiệm chi số 13 lập ngày 24/10/2024 do Công an huyện Đ nộp vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân; Các vật chứng có đặc điểm như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/10/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ và Chi cục THADS huyện Đ).
3. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Văn P phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Vĩnh Long |
Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN về tội đánh bạc
- Số bản án: 27/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
