Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÙ CANG CHẢI

TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/ HS- ST

Ngày 24- 10- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tòng Văn Quân.

Các Hội thẩm thân dân: Ông Nguyễn Anh Phương.

Ông Lý A Náng.

- Thư ký phiên toà: Ông Lý A Dà- Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải tham gia phiên toà: Ông Lý A Việt- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST- HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Giàng Thị K- sinh ngày 10 tháng 10 năm 1984, tại huyện M, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Bản M, xã M, huyện M, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng Vàng P, sinh năm 1962 và bà Mùa Thị C, sinh năm 1960; có chồng là Mùa A P1- sinh năm 1977 và 04 con (con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2024; đến ngày 20/5/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp Bảo lĩnh. Hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

2. Mùa A T- sinh ngày 13 tháng 10 năm 1981, tại huyện M, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Bản M, xã M, huyện M, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mùa Vảng S và bà Hờ Thị D (Đều đã chết); có vợ là Vàng Thị D1, sinh năm 1982 và 02 con (Con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2003); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số: 15/2017/HSST ngày 28/03/2017 bị Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” đến ngày 28/5/2018 chấp hành xong án phạt tù (đã được xoá án tích); Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Nguyễn Ngọc L và bà Phan Thị Kim T1- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Y. Có mặt.

- Người phiên dịch: ông Thào A D2, sinh năm 1979; trú tại: Tổ E, thị trấn M, huyện M, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 16/4/2024, tổ công tác Công an huyện M làm nhiệm vụ tại khu vực tổ A, thị trấn M, huyện M phát hiện Giàng Thị K đi bộ trên đường mòn từ hướng bản H, xã M, huyện M sau đó ngồi lên xe mô tô màu đen không rõ biển số do một người đàn ông lạ mặt điều khiển đi về phía thị trấn M, tổ công tác tiến hành tiếp cận để kiểm tra, quá trình kiểm tra người đàn ông điều khiển xe mô tô bỏ chạy, kiểm tra Giàng Thị K phát hiện tay trái K đang cầm 01 gói bằng nilon màu trắng được hàn túm một đầu, bên trong có chứa 01 viên nén màu hồng và chất bột nén màu trắng, K khai nhận đây là ma túy của bản thân mua về để sử dụng, ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của K 01 điện thoại di động. Sau đó tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Giàng Thị K, niêm phong vật chứng theo quy định.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, Giàng Thị K khai nhận do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 09 giờ ngày 16/4/2024, K nhờ người đàn ông tên T2 (có vợ tên là V), trú tại bản Trống Gầu Bua, xã H, huyện M đưa lên khu vực bản M, xã M, huyện M với mục đích đi mua ma túy để sử dụng nhưng không nói cho T2 biết. T2 điều khiển xe mô tô chở K đi đến khu vực đầu bản M, xã M thì K bảo T2 dừng lại đợi, lúc này vào khoảng 10 giờ cùng ngày, K đi bộ đến khu vực ruộng của Mùa A T, tại đây K đã gặp và mua của T 01 viên ma túy tổng hợp và một lượng Heroine với giá 350.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, K đi về thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang.

Căn cứ lời khai của Giàng Thị K, cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Mùa A T, quá trình giữ người phát hiện trên người của Mùa A T đang đeo 01 túi vải màu đen bên trong có: 01 gói bằng nilon màu xanh buộc thắt nút một đầu, bên trong có chất bột nén màu trắng; 01 gói bằng nilon màu trắng, buộc thắt nút một đầu, bên trong có chất bột nén màu trắng; 01 lọ nhựa màu trắng có nắp vặn, bên trong có các mảnh viên nén màu hồng và các mảnh chất bột nén màu trắng. Tiền có chữ Ngân hàng N1: 675.000 đồng gồm nhiều tờ tiền và nhiều mệnh giá khác nhau.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, địa điểm, đồ vật của Mùa A T tại bản Màng Mủ, xã M, huyện M, tỉnh Yên Bái phát hiện và thu giữ tại khe xà gỗ trong khu vực bếp 01 gói bằng nilon màu hồng buộc thắt nút một đầu bên trong chứa chất bột nén màu trắng.

* Tại bản Kết luận giám định số: 226/KL-KTHS ngày 25/4/2024 của phòng K1 Công an tỉnh Y kết luận:

  1. Viên nén màu hồng thu giữ khi bắt quả tang Giàng Thị K có khối lượng là: 0,1 gam.
    • - 0,1 gam viên nén màu hồng gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine.
  2. Chất bộ nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Giàng Thị K có khối lượng là: 0,18 gam.
    • - 0,08 gam trích từ 0,18 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.
  3. Các mảnh viên nén màu hồng thu giữ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Mùa A T có tổng khối lượng là: 0,05 gam.
    • - 0,05 gam các mảnh viên nén màu hồng gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine.
  4. Chất bột nén màu trắng thu giữ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Mùa A T có tổng khối lượng là: 3,7 gam.
    • - 0,2 gam trích từ 3,7 gam chất bột nén gửi giám định là ma túy; loại Heroine.
  5. Chất bột nén màu trắng thu giữ khi khám xét đối với Mùa A T có khối lượng là: 0,5 gam.
    • - 0,1 gam trích từ 0,5 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.

* Tại Kết luận giám định số: 221/KL-KTHS ngày 23/4/2024 của phòng K1 Công an tỉnh Y kết luận: Số tiền 675.000 đồng thu giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Mùa A T gồm các tờ tiền Việt Nam có mệnh giá khác nhau gửi giám định đều là tiền thật do Ngân hàng N1 phát hành.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Giàng Thị K và Mùa A T khai nhận: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 15/4/2024, Mùa A T một mình đi bộ đến khu vực bản N, xã P, huyện M, tỉnh Yên Bái với mục đích mua ma túy để sử dụng và ai có nhu cầu mua thì bán kiếm lời, tại đây T đã gặp một người nam giới không quen biết, qua trao đổi T đã thuê người nam giới này số tiền 50.000 đồng để người này đi mua ma túy hộ Thênh một lượng ma tuý với số tiền 2.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T mang về nhà lều của bản thân cất giấu để bán kiếm lời. Khoảng 10 giờ 00 cùng ngày, Giàng Thị K đến hỏi mua ma túy, tại đây T đã bán cho Giàng Thị K 01 viên ma túy tổng hợp và một lượng Heroine với số tiền 350.000 đồng, số ma tuý còn lại Thênh cất giấu để sử dụng và bán kiếm lời. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện M đến khám xét, giữ người trong trường hợp khẩn cấp và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Cáo trạng số: 27/CT- VKS- MCC ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải truy tố Giàng Thị K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; Truy tố Mùa A T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đã phân tích, đánh giá hành vi của các bị cáo trong quá trình thực hiện tội phạm và giữ nguyên quan điểm truy tố:

  • - Đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm n, s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Giàng Thị K từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mùa A T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo; do các bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy; 04 vỏ phong bì và nilon gói sau khi mở niêm phong; 01 lọ nhựa có nắp vặn; 01 túi vải màu đen đã qua sử dụng.

  • - Trả lại cho bị cáo Giàng Thị K 01 (một) điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, màu trắng, mặt sau có ký hiệu TECNO đã qua sử dụng.
  • - Đối với số tiền 675.000 đồng thu giữ của Mùa A T. (Trong đó 350.000 đồng là tiền phạm tội mà có, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước; còn lại 325.000 đồng là tiền thu nhập hợp pháp của bị cáo T, cần trả lại cho bị cáo.

Người bào chữa trình bày lời bào chữa nhất trí với tội danh và điều khoản truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo là dân tộc thiểu số, không biết chữ, nhận thức pháp luật còn hạn chế; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; riêng đối với Giàng Thị K cần áp dụng thêm tình tiết tích cực hợp tác với Cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm; Người phạm tội là phụ nữ có thai theo điểm n, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, n, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt Giàng Thị K 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Mùa A T từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Các bị cáo thuộc hộ cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa và không có ý kiến bổ sung.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đề nghị được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải, Kiểm sát viên; trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các thành viên của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thủ tục tố tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2]. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng, phù hợp với kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Ngày 16/4/2024 Giàng Thị K gặp và mua 0,1 gam Methamphetamine và 0,18 gam Heroine với giá 350.000 đồng của Mùa A T mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo Giàng Thị K đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Ngày 15/4/2024 Mùa A T mua 01 lượng Heroine và Methamphetamine với giá 2.000.000 đồng mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Cụ thể: Mùa A T đã bán cho Giàng Thị K 0,1 gam Methamphetamine và 0,18 gam Heroine với giá 350.000 đồng; Số ma tuý còn lại 0,05 gam Methamphetamine và 4,2 gam Heroine Thênh cất giấu nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo Mùa A T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[3]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, các bị cáo nhận thức được việc “Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm quy định của Nhà nước về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma tuý, mà còn làm gia tăng tệ nạn nghiện ma tuý, là nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh các loại tội phạm khác trên địa bàn, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; riêng đối với bị cáo Giàng Thị K cần áp dụng thêm tình tiết Tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm; Người phạm tội là phụ nữ có thai theo điểm t, n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt.

[5]. Về nhân thân:

Bị cáo Giàng Thị K là phụ nữ dân tộc thiểu số, không biết chữ, hiểu biết xã hội còn hạn chế, chưa có tiền án, tiền sự nhưng là người nghiện ma tuý thể hiện bị cáo là người có nhân thân chưa tốt.

Bị cáo Mùa A T đã bị kết án và xử phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Bản số: 15/2017/HSST ngày 28/3/2017 của Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải (đã được xóa án tích). Nhưng bị cáo không lấy làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu.

[6]. Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời cũng đảm bảo răn đe, phòng ngừa chung.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình của các bị cáo khó khăn, không có khả năng, điều kiện thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8]. Các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

  • - Đối với khối lượng ma túy Mùa A T đã sử dụng vào ngày 15 và ngày 16/4/2024, do T đã sử dụng hết và khi sử dụng Thênh không xác định thực tế khối lượng nên không đủ căn cứ để xác định trách nhiệm hình sự.
  • - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Giàng Thị K đã vi phạm khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ. Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu đến Công an huyện M ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Giàng Thị K về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp.
  • - Đối với người đàn ông tên T2 có vợ tên là V, quá trình điều tra Giàng Thị K khai được người này giới thiệu tên là T2, trú tại bản T, xã H, huyện M, tỉnh Yên Bái, không biết cụ thể ở đâu. Cơ quan điều tra xác minh tại xã H xác định không có người tên là T2 có vợ tên là V như K đã khai. Do đó, không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý
  • - Người nam giới mua hộ ma túy cho Mùa A T, quá trình điều tra bị cáo không biết tên, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng. Do đó, không có căn cứ để xác minh làm rõ.

[9]. Về xử lý vật chứng:

  • - 0,1 gam Methamphetamine do phòng K1 Công an tỉnh Y đã sử dụng hết làm mẫu giám định. Không hoàn lại mẫu vật.
  • - 0,05 gam Methamphetamine do phòng K1 Công an tỉnh Y đã sử dụng hết làm mẫu giám định. Không hoàn lại mẫu vật.
  • - Khối lượng Heroine còn lại là 0,1 gam được niêm phong vào 01 phong bì do phòng K1 Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước có ghi: “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Giàng Thị K tại tổ A, thị trấn M, huyện M, tỉnh Yên Bái ngày 16/4/2024” (sau khi trích mẫu giám định). Là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - Khối lượng Heroine còn lại là 3,5 gam được niêm phong vào 01 phong bì do phòng K1 Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước có ghi: “Vật chứng thu giữ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Mùa A T– SN: 1981 tại UBND xã M, huyện M, tỉnh Yên Bái ngày 16/4/2024” (sau khi trích mẫu giám định). Là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - Khối lượng Heroine còn lại là 0,4 gam được niêm phong vào 01 phong bì do phòng K1 Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước có ghi: “Vật chứng thu giữ khi khám xét đối với: Mùa A T – SN: 1981, tại bản Màng Mủ, xã M, huyện M, tỉnh Yên Bái ngày 16/4/2024” (sau khi trích mẫu giám định). Là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - 04 (bốn) vỏ phong bì và giấy nilon gói sau khi mở niêm phong; 01 (một) lọ nhựa màu trắng có nắp vặn; 01 (một) túi vải màu đen, đã qua sử dụng. Không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - 01 (một) điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, màu trắng, mặt sau có ký hiệu TECNO đã qua sử dụng. Là tài sản hợp pháp của bị cáo Giàng Thị K không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với số tiền 675.000 đồng thu giữ của Mùa A T. (Trong đó 350.000 đồng là tiền phạm tội mà có, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước; còn lại 325.000 đồng là tiền thu nhập hợp pháp của bị cáo T, cần trả lại cho bị cáo.

[10]. Về án phí: Do các bị cáo thuộc hộ cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

[11]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 249 và Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Giàng Thị K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"; Bị cáo Mùa A T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

1. Về hình phạt:

  • - Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm n, s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự:
  • Xử phạt bị cáo Giàng Thị K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng được khấu trừ 01 (một) tháng 04 (bốn) ngày tạm giữ, tạm giam (Từ ngày 16/4/2024 đến 20/5/2024). Bị cáo còn phải chấp hành 13 (Mười ba) tháng 26 (Hai mươi sáu) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự:
  • Xử phạt bị cáo Mùa A T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 16/4/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu huỷ:
    • + Khối lượng Heroine còn lại là 0,1 gam được niêm phong vào 01 phong bì do phòng K1 Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước có ghi: “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Giàng Thị K tại tổ A, thị trấn M, huyện M, tỉnh Yên Bái ngày 16/4/2024” (sau khi trích mẫu giám định). Mặt sau phong bì các mép được dán kín, có chữ ký, họ tên của Trương Xuân N, Nguyễn Ngọc L, Lý A V1, Hoàng Hữu Quốc T3, Nguyễn Anh T4 và 04 hình dấu tròn đỏ của phòng K1 Công an tỉnh Y.
    • + Khối lượng Heroine còn lại là 3,5 gam được niêm phong vào 01 phong bì do phòng K1 Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước có ghi: “Vật chứng thu giữ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Mùa A T−SN: 1981 tại UBND xã M, huyện M, tỉnh Yên Bái ngày 16/4/2024” (sau khi trích mẫu giám định). Mặt sau phong bì các mép được dán kín, có chữ ký, họ tên của Trương Xuân N, Nguyễn Ngọc L, Lý A V1, Hoàng Hữu Quốc T3, Nguyễn Anh T4 và 04 hình dấu tròn đỏ của phòng K1 Công an tỉnh Y.
    • + Khối lượng Heroine còn lại là 0,4 gam được niêm phong vào 01 phong bì do phòng K1 Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước có ghi: “Vật chứng thu giữ khi khám xét đối với: Mùa A T – SN: 1981, tại bản Màng Mủ, xã M, huyện M, tỉnh Yên Bái ngày 16/4/2024” (sau khi trích mẫu giám định). Mặt sau phong bì các mép được dán kín, có chữ ký, họ tên của Trương Xuân N, Nguyễn Ngọc L, Lý A V1, Hoàng Hữu Quốc T3, Nguyễn Anh T4 và 04 hình dấu tròn đỏ của phòng K1 Công an tỉnh Y.
    • + 04 (bốn) vỏ phong bì và giấy nilon gói sau khi mở niêm phong; 01 (một) lọ nhựa màu trắng có nắp vặn; 01 (một) túi vải màu đen, đã qua sử dụng.
  • - Trả lại cho bị cáo Giàng Thị K: 01 (một) điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, màu trắng, mặt sau có ký hiệu TECNO đã qua sử dụng
  • - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước của bị cáo Mùa A T 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng).
  • - Trả lại cho bị cáo Mùa A T 325.000 đồng (Ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các bị cáo Giàng Thị K và Mùa A T được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh YB;
  • - VKSND huyện MCC;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - Công an huyện MCC (2 bản);
  • - Chi cục THADS huyện MCC;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Các bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện MCC;
  • - Lưu T.H.A phạt tù, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tòng Văn Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma tuý và mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 16/4/2024 Giàng Thị K gặp và mua 0,1 gam Methamphetamine và 0,18 gam Heroine với giá 350.000 đồng của Mùa A T mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo Giàng Thị K đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Ngày 15/4/2024 Mùa A T mua 01 lượng Heroine và Methamphetamine với giá 2.000.000 đồng mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Cụ thể: Mùa A T đã bán cho Giàng Thị K 0,1 gam Methamphetamine và 0,18 gam Heroine với giá 350.000 đồng; Số ma tuý còn lại 0,05 gam Methamphetamine và 4,2 gam Heroine Thênh cất giấu nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo Mùa A T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger