|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2024/HS-ST Ngày 17 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Quốc Sách.
Các hội thẩm nhân dân.
Bà Ngô Thị Lệ Nga.
Ông Bùi Tấn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2024/TLHS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
* Trần Văn H, sinh ngày 07 tháng 8 năm 1994, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi thường trú: khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp - Nơi ở hiện nay: ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không ổn định; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn H1, sinh năm: 1953 và bà: Phạm Thị Bé H2, sinh năm: 1957 (chết); Có vợ: Bùi Thị Cẩm L, sinh năm: 1998 và 01 người con chung sinh năm: 2022; Tiền sự: Chưa có; Tiền án: Có 01 lần, ngày 17/5/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành hình phạt tù xong vào ngày 09/12/2023; Tạm giữ: Ngày 23/01/2024; Tạm giam: Ngày 01/02/2024 đến nay (Bị cáo có mặt).
- Người bị hại:
- Nguyễn Tấn D, sinh năm: 1988, (có mặt)
- Huỳnh Thị Thùy D1, sinh năm: 1988 (vợ ông D), (vắng mặt)
- Phan Văn S, sinh năm:1984, (có mặt)
- Nguyễn Thị Dạ L1, sinh năm: 1990 (vợ ông S), (có mặt)
Cùng cư trú: Số nhà B, đường Â, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.
Cùng cư trú: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Huỳnh Thái T, sinh năm: 1984, Cư trú: Khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. (chủ tiệm V - Bé S1), (vắng mặt)
- Hồ Như H3, sinh năm: 1994, Cư trú: ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. (chủ tiệm V1 - Ú), (vắng mặt)
- Bùi Thị Cẩm L, sinh năm: 1998, Cư trú: ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. (vợ bị cáo H), (có mặt)
- Võ Hữu K, sinh năm: 1974, Cư trú: 3 đường B, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. (người bán xe cho Cẩm L2), (vắng mặt)
- Nguyễn Văn T1, sinh năm: ....., Cư trú: N, phường A, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh. (người đứng tên giấy xe của Cẩm L2), (vắng mặt)
- Người làm chứng:
- Lê Thị B, sinh năm: 1971, Cư trú: ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. (mẹ của Cẩm L2), (vắng mặt)
- Phạm Văn M, sinh năm: 1973, Cư trú: ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. (người mua bán xe của Cẩm L2), (vắng mặt)
- Nguyễn Vĩnh T2, sinh năm: 1985, Cư trú: ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. (người mua bán xe của Cẩm L2), (vắng mặt)
- Nguyễn Gia N, sinh ngày 17/7/2010, Cư trú: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (Người giám hộ là bà Nguyễn Thị Dạ L1 – là mẹ), (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
Ngày 17/5/2023, Trần Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/12/2023, chưa được xóa án tích, lại tiếp tục thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản của người khác. Cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 07 giờ ngày 17/01/2024, Trần Văn H điều khiển xe mô tô biển số: 59P2-267.97, nhãn hiệu Honda, loại VISION, màu sơn đen, từ nhà vợ chồng của H tại ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp đến thị xã T, tỉnh An Giang để tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, khi H điều khiển xe đến khu dân cư khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; thấy nhà bà Huỳnh Thị Thùy D1 và ông Nguyễn Tấn D đang khóa cửa trước, nhà không ai trông coi nên H nảy sinh ý định đột nhập vào nhà để lấy trộm tài sản. Lúc này, H đi bộ vòng ra phía sau nhà bà D1, cửa nhà sau bằng kim loại nên H sử dụng 01 cây kiềm bằng kim loại (loại kiềm mỏ vịt, lưỡi sắt bén, mũi kiềm nhọn, cán ốp nhựa màu xanh) để cắt vách cánh cửa sau tạo thành một lỗ thủng, H đưa tay trái vào lỗ thủng để mở chốt cửa đột nhập vào bên trong. H đi vào phòng ngủ thứ nhất (hướng từ phía sau ra trước), dùng kiềm cạy ổ khóa của tủ kéo bằng nhựa màu xanh, lấy được tài sản gồm nhiều loại nhẫn, vòng đeo tay, bông tai, dây chuyền làm bằng vàng 24K, 18K và vàng Ý (loại vàng trắng), H bỏ tất cả tài sản vào túi quần phía trước, rồi đi ra theo lối đường cũ tẩu thoát. Sau đó, H điều khiển xe biển số: 59P2-267.97 đến tiệm V (Bé S) của ông Huỳnh Thái T ở khu vực chợ C thuộc phường A, thành phố H để bán một số tài sản vừa lấy trộm, được tổng số tiền 40.000.000đồng và tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 22/01/2024, H đến tiệm V1 của bà Hồ Như H3 thuộc ấp L, xã L, huyện H để bán 01 đôi bông tai, kiểu hoa mai, loại vàng 24K với số tiền 5.000.000đồng và tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ hai: Vào khoảng 08 giờ, ngày 18/01/2024 Trần Văn H tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số: 59P2-267.97 cũng từ nhà vợ chồng của H tại ấp L, xã L đến xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp để tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi đến tuyến đường dân cư thuộc ấp P, xã P, huyện H thấy nhà bà Nguyễn Thị Dạ L1 và ông Phan Văn S đang khóa cửa trước. Lúc này, H đi bộ vòng ra phía sau nhà bà L1, leo trèo lên lan can và bước qua cửa sổ đi vào nhà. H dùng kiềm bằng kim loại (loại kiềm mỏ vịt, lưỡi sắt bén, mũi kiềm nhọn, cán ốp nhựa màu xanh) đã chuẩn bị sẵn, cắt vách cánh cửa sau tạo thành một lỗ thủng, H đưa tay phải vào trong mở ổ khóa cửa để vào nhà. Sau đó, H đi vào phòng ngủ của bà L1, thấy cái hộp màu trắng để trong tủ ván ép có nữ trang gồm nhiều loại dây chuyền, bông tai, nhẫn, lắc tay bằng vàng 18k, 24k, vàng Ý và 01 cái đồng hồ nên H lấy tất cả nữ trang và đồng hồ cất giấu vào túi quần bên phải và tiếp tục lấy trộm 01 điện thoại OPPO A3S, màu xanh để vào túi quần bên trái. Sau đó, H đi ra lan can phía sau nhà bà L1 để leo trèo xuống đất và tẩu thoát. H điều khiển xe biển số: 59P2-267.97 đến tiệm V1 của bà Hồ Như H3, thuộc ấp L, xã L, huyện H để bán một số vàng nữ trang vừa lấy trộm, được tổng số tiền 120.000.000đồng. Đến khoảng chiều ngày 22/01/2024 H tiếp tục mang số vàng nữ trang còn lại gồm: 01 dây chuyền, kiểu ép, loại vàng Ý; 01 chiếc nhẫn vàng Ý; 01 đôi bông tai, kiểu bị châu vàng Ý (loại vàng hồng) đến bán cho bà Hồ Như H3 (tại tiệm V1) được số tiền khoảng 23.000.000đồng. Tất cả số tiền do bán vàng có được, H sử dụng hết vào mục đích tiêu xài cá nhân và khám chữa bệnh.
Ngày 23/01/2024, Trần Văn H đến Cơ quan Công an huyện H tự thú về hành vi Trộm cắp tài sản như nêu trên.
Ngày 01/02/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H thực nghiệm điều tra, Trần Văn H thực hiện được hành vi đột nhập vào nhà bà Nguyễn Thị Dạ L1 và ông Phan Văn S để lấy trộm tài sản, phù hợp lời khai của H và người bị hại (Bút lục 238-252)
* Kết luận định giá tài sản số: 703/KL-HĐĐG.TTHS, ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, tỉnh An Giang kết luận: (giá trị tài sản bị mất trộm của bà Huỳnh Thị Thùy D1 và ông Nguyễn Tấn D ở khóm L, phường L, thị xã T):
- + 01 (một) đôi bông tai, loại vàng 24kara có kiểu dáng hình hoa mai, trọng lượng 01 chỉ. Đã qua sử dụng. Trị giá 6.355.000 đồng.
- + 01 (một) đôi bông tai, loại vàng 18kara, trọng lượng 0,3 chỉ. Đã qua sử dụng. Trị giá 1.430.000 đồng.
- + 02 (hai) chiếc nhẫn cưới, loại nhẫn trơn, loại vàng 18kara, trọng lượng 02 chiếc nhẫn là 0,9 chỉ. Đã qua sử dụng. Trị giá 4.300.000 đồng.
- + 01 (một) sợi dây chuyền, bằng vàng 18kara, kiểu mắc xích, trọng lượng 0,5 chỉ. Đã qua sử dụng. Trị giá 2.390.000 đồng.
- + 01 (một) chiếc nhẫn, bằng vàng Ý, kiểu nơ tấm, trọng lượng 4,34 gram. Đã qua sử dụng. Trị giá 5.425.000 đồng.
- + 01 (một) mặt dây chuyền, bằng vàng Ý, kiểu nơ tấm, trọng lượng 6,29 gram. Đã qua sử dụng. Trị giá 7.863.000 đồng.
- + 01 (một) đôi hoa tai, bằng vàng Ý, kiểu nơ tấm, trọng lượng 2,75 gram. Đã qua sử dụng. Trị giá 3.438.000 đồng.
- + 01 (một) vòng đeo tay, bằng vàng Ý, kiểu nơ tầm, trọng lượng 15,39 gram. Đã qua sử dụng. Trị giá 19.238.000 đồng.
- + 01 (một) sợi dây chuyền, bằng vàng Ý, kiểu nơ tấm, trọng lượng 11,02 gram. Đã qua sử dụng. Trị giá: 14.326.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản là: 64.765.000 đồng (Bút lục 48-49).
* Kết luận định giá tài sản số: 07/KLHĐĐGTS-TTHS, ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận (giá trị tài sản bị mất trộm của bà Nguyễn Thị Dạ L1 và ông Phan Văn S ở ấp P, xã P, huyện H):
- - 01 (một) mặt dây chuyền, loại vàng Ý, màu hồng, trọng lượng 3,33 gram. Trị giá 5.161.000 đồng (giá vàng bán ra);
- - 01 (một) đôi bông tai, loại vàng Ý, màu hồng, kiểu hình vuông, trọng lượng 2,85 gram. Trị giá 4.417.000 đồng (giá vàng bán ra);
- - 01 (một) chiếc nhẫn Simel, loại vàng 18K, tuổi vàng 610, trọng lượng 1 chỉ 13,5. Trị giá 4.755.000 đồng (giá vàng bán ra bao gồm tiền công);
- - 01 (một) đôi bông tai, kiểu bị châu, loại vàng Ý, màu trắng, trọng lượng 2,96 gram. Trị giá 4.440.000 đồng (giá vàng bán ra);
- - 01 (một) đôi bông tai, kiểu đít đẩy, loại vàng 18K, tuổi vàng 610, trọng lượng 1 chỉ 16,2. Trị giá 4.863.000 đồng (giá bán ra);
- - 01 (một) đôi bông tai, loại vàng Ý, màu hồng, trọng lượng 1,5 gram. Trị giá 2.250.000 đồng (giá bán ra);
- - 01 (một) sợi dây chuyền kiểu ép, loại vàng Ý, màu trắng, trọng lượng 10,12 gram. Trị giá 16.192.000 đồng (giá bán ra);
- - 01 (một) sợi dây chuyền, kiểu liền mặt, loại vàng Ý, màu hồng, trọng lượng 3,75 gram. Trị giá 5.533.000 đồng (giá bán ra);
- - 01 (một) chiếc lắc tay, loại vàng 18K, tuổi vàng 690, trọng lượng 1,793 lượng. Trị giá 77.728.000 đồng (giá bán ra bao gồm tiền công);
- - 01 (một) chiếc lắc tay, loại vàng 18K, tuổi vàng 610, trọng lượng 5,66 chỉ. Trị giá 22.690.000 đồng (giá bán ra bao gồm tiền công);
- - 01 (một) sợi dây chuyền, kiểu dây cong (loại dây chuyền của trẻ em), loại vàng 18K, tuổi vàng 610, trọng lượng 1,244 chỉ. Trị giá 5.048.000 đồng (giá bán ra bao gồm tiền công);
- - 01 (một) chiếc lắc tay (kiểu trẻ em), loại vàng 18K, tuổi vàng 610, trọng lượng 6,13 phân. Trị giá 2.533.000 đồng (giá bán ra bao gồm tiền công);
- - 01 (một) đôi bông tai, loại vàng Ý, màu trắng, trọng lượng 2,93 gram. Trị giá 4.395.000 đồng (giá bán ra);
- - 01 (một) đôi bông tai, loại vàng Ý, màu trắng, trọng lượng 6,71 gram. Trị giá 10.065.000 đồng (giá bán ra);
- - 01 (một) chiếc nhẫn, kiểu khía, loại vàng 24K, trọng lượng 01 chỉ. Trị giá 6.345.000 đồng (giá bán ra bao gồm tiền công);
- - 01 (một) chiếc lắc tay, loại vàng 18K, tuổi vàng 610, trọng lượng 02 chỉ. Trị giá 8.190.000 đồng (giá bán ra bao gồm tiền công);
- - 01 (một) chiếc nhẫn, kiểu khía, loại vàng 18K, trọng lượng 05 phân. Trị giá 2.085.000 đồng (giá bán ra bao gồm tiền công);
- - 01 (một) chiếc nhẫn, kiểu khía, loại vàng 18K, trọng lượng 05 phân. Trị giá 2.085.000 đồng (giá bán ra bao gồm tiền công);
- - 01 (một) chiếc đồng hồ, dây kim loại màu hồng, nhãn hiệu ANNE KLEIN, đã qua sử dụng. Trị giá 300.000 đồng;
- - 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A3S, màu xanh, không rõ model, đã qua sử dụng. Trị giá 300.000 đồng;
- - 01 (một) thẻ sim điện thoại Vietel, đã qua sử dụng. Trị giá 25.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là 189.400.000đồng. (Bút lục 200 - 203)
* Kết luận định giá tài sản số: 11/KLHĐĐGTS-TTHS, ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận:
- 01 (một) chiếc nhẫn bằng vàng Ý, màu trắng, có gắn hột đá màu trắng, độ tuổi 750, có trọng lượng 2,89 gram, trị giá 4.335.000đồng (giá bán ra bao gồm tiền công),(giá trị tài sản bị mất trộm của bà Nguyễn Thị Dạ L1 và ông Phan Văn S ở ấp P, xã P, huyện H). (Bút lục 208-209)
=> Tổng cộng giá trị tài sản bị mất trộm của bà Nguyễn Thị Dạ L1 và ông Phan Văn S ở ấp P, xã P, huyện H: 193.735.000đồng.
* Kết luận giám định số: 312/KL-KTHS ngày 20 tháng 3 năm 2024 của phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận số tài sản của bà Nguyễn Thị Dạ L1 và ông Phan Văn S ở ấp P, xã P, huyện H, đã thu hồi được như sau:
- - 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, kiểu khía, có đóng ký hiệu “1.0.THC 990” (ký hiệu mẫu M1), được niêm phong trong phong bì gửi giám định có chứa thành phần kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng 98,83%, có khối lượng 3,756 gram.
- - 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, chiều dài 41cm, dạng khoen, có đóng ký hiệu “KHĐ 610” (ký hiệu mẫu M2), được niêm phong trong phong bì gửi giám định có chứa thành phần kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng 60,03%, có khối lượng 4,665 gram.
- - 01 (một) chiếc lắc bằng kim loại màu vàng, chiều dài 16cm, có đóng ký hiệu “KHĐ 610” (ký hiệu mẫu M3), được niêm phong trong phong bì gửi giám định có chứa thành phần kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng 60,36%, có khối lượng 2,298 gram.
- - 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng, chiều dài 44cm, có đóng ký hiệu “YTALY Au 780” (ký hiệu mẫu M4), được niêm phong trong phong bì gửi giám định có chứa thành phần kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng 76,93%, có khối lượng 10,133 gram.
- - 01 (một) đôi bông tai bằng kim loại màu vàng hồng, không có đóng ký hiệu (ký hiệu mẫu M5), được niêm phong trong phong bì gửi giám định có chứa thành phần kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng 74,24%, có tổng khối lượng 1,498 gram.
- - 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng, có gắn hột đá màu trắng, có đóng ký hiệu “TĐJ 750” (ký hiệu mẫu M6), được niêm phong trong phong bì gửi giám định có chứa thành phần kim loại vàng (Au), phần kim loại màu trắng có chứa hàm lượng kim loại vàng 75,07%, có tổng khối lượng 2,895 gram (Bút lục 260-261).
Vật chứng thu giữ và xử lý:
- Tiền Việt Nam: 20.000.000đồng (trong đó của ông Huỳnh Thái T 15.000.000đồng; của bà Hồ Như H3 5.000.000đồng – hai chủ tiệm V2 giao nộp). Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã trả lại bị hại Nguyễn Tấn D (Bút lục 64-67).
- Thu giữ tại nhà của vợ chồng Trần Văn H qua quá trình khám xét:
- + 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, có gắn mặt dây chuyền hình phật màu vàng, tổng chiều dài 33cm.
- + 01 đôi bông tai bằng kim loại màu vàng, có đính hột đá màu trắng.
Đây là tài sản của bà Bùi Thị Cẫm L3 (vợ của H) và bà Lê Thị B (mẹ vợ của H) không liên quan đến vụ án. Cơ quan điều tra xử lý, trả lại cho bà L3, bà B (Bút lục 285-287)
- + 01 cái đồng hồ, nhãn hiệu ANNE KLEIN (trị giá 300.000đồng).
- + 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng (trị giá 6.345.000 đồng).
- + 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, có chiều dài 41cm (trị giá 5.048.000 đồng).
- + 01 chiếc lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng, có chiều dài 16cm (trị giá 2.533.000 đồng)
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppp A03S, màu xanh, đã qua sử dụng. (kèm theo sim, trị giá 325.000đồng)
- + Tiền Việt Nam 10.000.000đồng.
- + 01 áo sơ mi dài tay sọc caro, màu xanh đen trắng, đã qua sử dụng,
- + 01 quần jean ngắn màu xám, đã qua sử dụng,
- + 01 cái nón kết màu đen, nhãn hiệu ADIDAS, đã qua sử dụng.
- + 01 chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 59P2-267.97, số khung 5803EY818013, số máy JF58E0818044, nhãn hiệu HONDA, số loại Vision, màu đen, đã qua sử dụng.
- + 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 097568 của xe mô tô 59P2-267.97 (bản gốc).
+ 01 nón bảo hiểm màu đỏ, có kết màu đen, có in dòng chữ “Cửa hàng xe gắn máy Thanh Phong”, đã qua sử dụng,
+ 01 cây kiềm bằng kim loại, có cán bằng nhựa màu xanh xám, nhãn hiệu Berry Lion, tổng chiều dài 18cm (mũi kiềm nhọn, dài 2,5cm) đã qua sử dụng.
- Thu của Trần Văn H:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 3 Pro, màu đen, đã qua sử dụng;
- + Tiền Việt Nam: 2.900.000đồng.
- Thu giữ của Hồ Như H3 (chủ tiệm V1 – Út Diễm):
- + 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng, kiểu dây ép, có chiều dài 44 cm (trị giá 16.192.000 đồng);
- + 01 đôi bông tai bằng kim loại màu hồng, kiểu bi châu (trị giá 2.250.000 đồng)
- + 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng, có gắn hột đá màu trắng (trị giá 4.335.000đồng)
Đối với 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, có chiều dài 41cm; 01 chiếc lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng, có chiều dài 16cm (thu tại nhà H) và 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng, kiểu dây ép, có chiều dài 44 cm; 01 đôi bông tai bằng kim loại màu hồng, kiểu bị châu; 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng, có gắn hột đá màu trắng (do Hồ Như H3 chủ tiệm V3). Cơ quan điều tra niêm phong và gửi giám định. Sau khi giám định, được niêm phong lại trong phong bì được dán giấy niêm phong ghi Niêm phong số: 312 ngày 20/3/2024, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K1 Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Bé N1 và Nguyễn Thành N2. Túi niêm phong này có cùng số tiền 12.900.000đồng được niêm phong trong 01 hộp kim loại màu đỏ, dán giấy niêm phong có chữ ký, ghi họ và tên Nguyễn Văn B1, Lâm Thị Trinh N3, Trần Văn H, Lâm Thanh M1 và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện H - được gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện H tạm giữ (đây là tài sản của bà Nguyễn Thị Dạ L1 và ông Phan Văn S ở ấp P, xã P, huyện H đã mất trộm). (Bút lục 282, 284)
Đối với những tài sản còn lại (nữ trang bằng vàng) mà Trần Văn H lấy trộm của các bị hại D, D1, L1, S và bán cho các tiệm vàng của ông Huỳnh Thái T, bà Hồ Như Huỳnh. Ông T, bà H3 đã nung nấu chung với số vàng nữ trang khác mà tiệm thu mua, thành vàng cục, nên không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự:
- Ngày 13/4/2024, Trần Văn H thống nhất thỏa thuận bồi thường thêm số tiền 44.765.000đồng cho bị hại Nguyễn Tấn D, Huỳnh Thị Thùy D1 (Bút lục 103, 104).
- Trong quá trình điều tra bị hại Phạm Văn S2 và Nguyễn Thị Dạ L1 không đồng ý thỏa thuận dân sự với Trần Văn H (vì cho rằng Cơ quan điều tra không thu hồi lại đủ số tài sản mà mình đã mất trộm), nhưng Trần Văn H tự nguyện bồi thường số tiền 12.900.000 đồng cho bị hại Phan Văn S, Nguyễn Thị Dạ L1 (Bút lục 305, 331-332)
- Người liên quan: ông Huỳnh Thái T, bà Hồ Như H3 (hai chủ tiệm vàng) không yêu cầu Trần Văn H bồi thường thiệt hại về số tiền mua vàng trộm (Bút lục 95-96, 101-102).
Theo Bản cáo trạng số: 25/CT-VKSHN, ngày 13/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố đối với Trần Văn H, về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1 và 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn H, từ 08 năm đến 09 năm tù;
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ biên bản thỏa thuận dân sự ngày 13/4/2024; Căn cứ Điều 589 Bộ luật Dân sự, Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- + Chấp nhận sự thỏa thuận và buộc bị cáo Trần Văn H bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Tấn D, Huỳnh Thị Thùy D1 số tiền 44.765.000đồng.
- + Buộc bị cáo Trần Văn H tiếp tục bồi thường thiệt hại cho bị hại Phan Văn S, Nguyễn Thị Dạ L1 số tiền 143.507.000 đồng (do trị giá tài sản bị mất trộm là 193.735.000đồng – 12.900.000đồng bị cáo H đã tự nguyện bồi thường – 37.328.000đồng tài sản trộm đã thu hồi được = 143.507.000đồng).
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- * Trả lại bị hại Nguyễn Thị Dạ L1, Phan Văn S:
- + 01 cái đồng hồ, nhãn hiệu ANNE KLEIN.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppp A03S, màu xanh.
- + 01 (một) thẻ sim điện thoại Vietel.
- + Tiền Việt Nam: 12.900.000đồng; 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, có chiều dài 41cm; 01 chiếc lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng, có chiều dài 16cm; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng, kiểu dây ép, có chiều dài 44 cm; 01 đôi bông tai bằng kim loại màu hồng, kiểu bị châu; 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng, có gắn hột đá màu trắng. Các tài sản này được niêm phong trong phong bì được dán giấy niêm phong ghi Niêm phong số 312 ngày 20/3/2024, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K1 Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Bé N1 và Nguyễn Thành N2 (được gửi tại Kho bạc nhà nước huyện H, tỉnh Đồng Tháp theo biên bản giao nhận ngày 28/3/2024 là 01 hộp kim loại màu đỏ nguyên niêm phong, dán giấy niêm phong có chữ ký, ghi họ và tên Nguyễn Văn B1, Lâm Thị Trinh N3, Trần Văn H, Lâm Thanh M1 và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện H).
- * Trả lại bị cáo Trần Văn H: 01 áo sơ mi dài tay sọc caro, màu xanh đen trắng; 01 cái nón kết màu đen, nhãn hiệu ADIDAS; 01 nón bảo hiểm màu đỏ, có kết màu đen, có in dòng chữ “Cửa hàng xe gắn máy Thanh Phong” (bị cáo Trần Văn H mặc và sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội).
- * Trả lại cho Bùi Thị Cẫm L3 (vợ bị cáo Trần Văn H): 01 chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 59P2-267.97, số khung 5803EY818013, số máy JF58E0818044, nhãn hiệu HONDA, số loại Vision, màu sơn đen. Đây là tài sản hợp pháp của Bùi Thị Cẫm L3, số tiền mua xe do bà Lê Thị B (mẹ ruột L3) cho riêng L3 để mua xe sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 097568 của xe mô tô 59P2-267.97 mang tên Nguyễn Văn T1 (bản gốc).
- * Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 3 Pro, màu đen, thuộc sở hữu của bị cáo Trần Văn H không liên quan đến vụ án, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
- * Tịch thu tiêu hủy đối với:
- + 01 quần jean ngắn màu xám, của bị cáo Trần Văn H dùng cất giấu tài sản sau khi trộm cắp.
- + 01 cây kiềm bằng kim loại, có cán bằng nhựa màu xanh xám, nhãn hiệu Berry Lion, tổng chiều dài 18cm (mũi kiềm nhọn, dài 2,5cm) là công cụ bị cáo Trần Văn H sử dụng để trộm cắp tài sản.
(Tất cả vật chứng đều đã qua sử dụng).
Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn H; người bị hại Phan Văn S, Nguyễn Thị Dạ L1; người liên quan Bùi Thị cẩm Linh không tranh luận, mà thống nhất theo quan điểm truy tố và phát biểu luận tội của Viện kiểm sát nhân dân Huyện. Riêng người bị hại Nguyễn Tấn D đề nghị xem xét tăng mức hình phạt hơn so với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Huyện.
Tại phiên tòa lời nói sau cùng của bị cáo Trần Văn H: Đã ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Đây là vụ án hình sự, theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự truy tố bị cáo Trần Văn H về hành vi “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự và vụ án xãy ra tại hai địa phận (Thị xã T, tỉnh An Giang, Huyện H, tỉnh Đồng Tháp và đã nhập lại thành 01 vụ án tại huyện H, tỉnh Đồng Tháp) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì Tòa án có triệu tập những người tham gia tố tụng, nhưng tại phiên tòa thì người bị hại Huỳnh Thị Thùy D1, một số người liên quan, một số người làm chứng vắng mặt không lý do (mặt dù đã được triệu tập hợp lệ). Xét thấy qua ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, những người tham gia tố tụng có mặt, thì việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, vã lại họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và không yêu cầu gì cả, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Tại phiên tòa bị cáo đã tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội của mình, không bị ép buộc; Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Nên Hội đồng xét xử không đặc vấn đề giải quyết.
[2]. Về nội dung vụ án:
Bị cáo Trần Văn H, do không có nghề nghiệp ổn định, nhưng lại muốn đua đòi vật chất, nên đã có ý thức trộm tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài và này bị cáo Trần Văn H đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xử phạt 10 tháng tù vào 17/5/2023, vừa chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 09/12/2023 thì đến ngày 17/01/2024 bị cáo Trần Văn H lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vợ chồng ông Nguyễn Tấn D, bà Huỳnh Thị Thùy D1 tại số nhà B, đường Â, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, với tổng giá trị tài sản trộm là: 64.765.000 đồng (là vàng nữ trang); chưa dừng ở đó sang ngày 18/01/2024 bị cáo Trần Văn H tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vợ chồng ông Phan Văn S, bà Nguyễn Thị Dạ L1 tại ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, với tổng giá trị tài sản trộm là: 193.735.000đồng (là vàng nữ trang, đồng hồ, điện thoại di động). Tổng cộng giá trị tài sản hai lần trộm là 258.500.000đồng. Tại phiên tòa cũng như qua quá trình điều tra bị cáo Trần Văn H đã thừa nhận toàn bộ diễn biến của việc thực hiện hành vi trộm cắp của mình, phù hợp với lời khai người bị hại, các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, cũng như diễn biến tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn H, phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000đồng đến dưới 500.000.000đồng.
...”
Dưới chế độ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của ta, thì tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản hợp pháp của công dân, của Nhà nước đều được pháp luật bảo vệ, nên mọi hành vi trái pháp luật xâm phạm đến đều bị trừng trị. Vậy mà bị cáo Trần Văn H là người thành niên, đầy đủ năng lực hành vi và đã có tiền án (được cải tạo, giáo dục...), nhưng lại không sửa chữa lỗi lầm, không có ý thức chấp hành pháp luật, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, để rồi bất chấp nguy hiểm, xem thường pháp luật, tiếp tục liều lĩnh lợi dụng khi không có ai trông coi tài sản lén lúc lấy trộm hoàn thành tại hai căn nhà của vợ chồng ông Nguyễn Tấn D, bà Huỳnh Thị Thùy D1 và của vợ chồng ông Phan Văn S, bà Nguyễn Thị Dạ L1 với tổng cộng giá trị tài sản hai lần trộm (chiếm đoạt) vào ngày 17/01/2024 và ngày 18/01/2024 là 258.500.000đồng (theo các kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tại hồ sơ), hành vi này đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác một cách trái pháp luật, nên sẽ bị pháp luật trừng trị. Việc bị cáo Trần Văn H cố ý tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác là đã thể hiện một bản chất lười biếng lao động, bất chấp pháp luật, chấp nhận đánh đổi phẩm giá của mình một lần nữa bằng con đường tội phạm. Đáng lý ra bị cáo Trần Văn H phải có suy nghĩ rằng mình tuổi đời còn trẻ, có vợ con (cuộc sống hạnh phúc) và đã từng được giáo dục bằng 01 bản án 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, thì phải có ý thức tốt, từ bỏ thói hư tật xấu và tìm cho mình một việc làm ổn định, có thu nhập chân chính để nuôi sống bản thân và phụ giúp gia đình, có như thế mới thể hiện tính nêu gương tốt trong việc chấp hành pháp luật và sự tôn trọng tài sản của người khác, đằng này bị cáo Trần Văn H không làm được điều đó mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác và hôm nay một lần nữa phải đứng trước phiên tòa chờ phán xét của pháp luật. Từ đó, thấy rằng với ý thức, mức độ, hậu quả qua hành vi của bị cáo Trần Văn H đã thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, làm hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an ở địa phương, nên cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng hậu quả của hành vi mà bị cáo gây ra và lần phạm tội này thuộc trường hợp phạm tội hai lần trở lên và tái phạm, nên cần áp dụng thêm tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để có đủ thêm điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo Trần Văn H có ý thức tốt hơn trong việc chấp hành pháp luật, giác ngộ sửa chữa lỗi lầm, phấn đấu trở thành công dân tốt có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai thiếu ý thức, bất chấp pháp luật, xem thường tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác như bị cáo Trần Văn H.
Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Văn H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Tự nguyện khắc phục một phần thiệt hại cho các bị hại; Trình độ học vấn thấp nên việc am hiểu pháp luật còn hạn chế; Thuộc thành phần lao động phổ thông và đã ra tự thú về hành vi trái pháp luật của mình. Nên xem đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ cho bị cáo Trần Văn H một phần hình phạt. Đó là tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[3]. Đối với hành vi của hai chủ tiệm vàng ông Huỳnh Thái T và bà Hồ Như H3 đã mua vàng của bị cáo Trần Văn H bán, nhưng họ đều không biết số vàng đã mua là tài sản do Trần Văn H trộm mà có, nên Viện kiểm sát nhân dân Huyện không đề cập trách nhiệm hình sự. Xét thấy là phù hợp, nên không xem xét.
[4]. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- Ngày 13/4/2024 và tại phiên tòa, giữa Trần Văn H với bị hại Nguyễn Tấn D, Huỳnh Thị Thùy D1 đã thống nhất thỏa thuận là bị cáo Trần Văn H bồi thường thêm số tiền 44.765.000đồng (phần giá trị tài sản không thu hồi được) cho bị hại Nguyễn Tấn D, Huỳnh Thị Thùy D1 và bị hại Nguyễn Tấn D không yêu cầu gì thêm. Xét thấy đây là tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo với người bị hại, phù hợp với pháp luật, nên chấp nhận.
- Đối với người bị hại Phan Văn S và Nguyễn Thị Dạ L1 mặt dù trong quá trình điều tra không đồng ý thỏa thuận dân sự với Trần Văn H (vì cho rằng Cơ quan điều tra không thu hồi lại đủ số tài sản mà mình đã mất trộm), nhưng Trần Văn H tự nguyện bồi thường số tiền 12.900.000đồng cho bị hại Phan Văn S, Nguyễn Thị Dạ L1. Xét thấy đây là tự nguyện khắc phục hậu quả của bị cáo Trần Văn H, là phù hợp với pháp luật, nên chấp nhận. Qua đó bị cáo Trần Văn H còn phải tiếp tục bồi thường thiệt hại lại cho người bị hại Phan Văn S, Nguyễn Thị Dạ L1 số tiền 143.507.000 đồng (vì giá trị tài sản bị mất trộm là 193.735.000đồng – 12.900.000đồng bị cáo H đã tự nguyện bồi thường – 37.328.000đồng tài sản trộm đã thu hồi được = 143.507.000đồng).
- Đối với 01 cái đồng hồ, nhãn hiệu ANNE KLEIN; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppp A03S, màu xanh; 01 (một) thẻ sim điện thoại Vietel; Tiền Việt Nam:12.900.000đồng; 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng; 01sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, có chiều dài 41cm; 01 chiếc lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng, có chiều dài 16cm; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng, kiểu dây ép, có chiều dài 44 cm; 01 đôi bông tai bằng kim loại màu hồng, kiểu bị châu; 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng, có gắn hột đá màu trắng. Trong quá trình điều tra người bị hại Phan Văn S, Nguyễn Thị Dạ L1 thừa nhận là số tài sản của mình bị mất trộm, nhưng không đồng ý nhận lại với lý do Cơ quan điều tra không thu hồi lại đầy đủ số tài sản đã mất trộm, nhưng qua giải thích của Hội đồng xét xử tại phiên tòa thì bị hại Phan Văn S, Nguyễn Thị Dạ L1 đã hiểu rõ và đồng ý nhận lại số tài sản này, nên nghỉ cần giao trả trả lại cho người bị hại Phan Văn S, Nguyễn Thị Dạ L1 sử dụng là phù hợp.
- Đối với người liên quan: ông Huỳnh Thái T, bà Hồ Như H3 (hai chủ tiệm vàng), mặc dù vằng mặt tại phiên tòa, nhưng tại hồ sơ thể hiện là không yêu cầu Trần Văn H bồi thường thiệt hại về số tiền mua vàng trộm. Xét thấy đây là tự nguyện không yêu cầu của ông Huỳnh Thái T, bà Hồ Như H3 (hai chủ tiệm vàng), phù hợp với pháp luật, nên không đặt vấn đề xem xét.
- Đối với 01 áo sơ mi dài tay sọc caro, màu xanh đen trắng; 01 cái nón kết màu đen, nhãn hiệu ADIDAS; 01 nón bảo hiểm màu đỏ, có kết màu đen, có in dòng chữ “Cửa hàng xe gắn máy Thanh Phong” (bị cáo Trần Văn H mặc và sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội). xét thấy không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho bị cáo Trần Văn H sử dụng là phù hợp.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 59P2-267.97, số khung 5803EY818013, số máy JF58E0818044, nhãn hiệu HONDA, số loại Vision, màu sơn đen và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 097568 của xe mô tô 59P2-267.97 mang tên Nguyễn Văn T1 (bản gốc). Xe này do Cẩm L2 mua tại tiệm cầm đồ của anh Phạm Văn M, anh Nguyễn Vĩnh T3, nhưng đã được anh Võ Hữu K (chủ cơ sở mua bán xe ở Thành phố Hồ Chí Minh), xác nhận rằng xe này mua của anh Nguyễn Văn T1 và đã bán lại cho Cẩm L2, nên Cẩm L2 là toàn quyền sở hữu, anh Hữu K không yêu cầu gì đối với chiếc xe – anh Nguyễn Văn T1 không rõ ở đâu nên không làm việc được. Từ đó xét thấy đây là tài sản của Bùi Thị Cẩm L, vì số tiền mua xe do bà Lê Thị B (mẹ ruột L) cho riêng L để mua xe sử dụng (việc này được bị cáo H, chị Cẩm L2, bà Lê Thị Bích thống n thừa nhận tại hồ sơ và tại phiên tòa), mặc dù bị cáo Trần Văn H sử dụng làm phương tiện đi trộm, nhưng Cẩm L2 không hay biết, nên cần trả lại cho Cẩm L2 sử dụng là phù hợp.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 3 Pro, màu đen, thuộc sở hữu của bị cáo Trần Văn H, mặc dù không liên quan đến vụ án, nhưng bị cáo Trần Văn H còn có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho các bị hại, nên nghỉ cần tiếp tục quản lý để đảm bảo một phần thi hành án.
- Đối với 01 quần jean ngắn màu xám, của bị cáo Trần Văn H dùng cất giấu tài sản sau khi trộm cắp; 01 cây kiềm bằng kim loại, có cán bằng nhựa màu xanh xám, nhãn hiệu Berry Lion, tổng chiều dài 18cm (mũi kiềm nhọn, dài 2,5cm) bị cáo Trần Văn H sử dụng phá cửa nhà, cửa tủ trộm cắp tài sản. Xét thấy đây là phương tiện, dụng cụ dùng vào việc phạm tội, nên nghỉ cần tịch thu tiêu hủy.
[5]. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về án phí, lệ phí, thì bị cáo Trần Văn H không thuộc trường hợp được miễn, nên phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[6]. Qua vụ án này, bị cáo Trần Văn H nên xem đây là một bài học đáng giá cho bản thân và từ bỏ ý thức xấu xa đó, đồng thời cũng cần nhắc nhở đến mọi công dân nên có ý thức nhiều hơn nữa trong việc quản lý tài sản của mình, không có một khoảng thời gian nào sơ hở để cho những kẽ có ý thức xấu xa thực hiện được hành vi phạm tội, có như thế mới góp phần chung vào phong trào đấu tranh phòng chống tội phạm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ các Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự;
2. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H: 08(T4) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 23/01/2024.
3. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự; Điều 246 Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên:
- + Chấp nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Trần Văn H với người bị hại Nguyễn Tấn D, Huỳnh Thị Thùy D1. Theo đó bị cáo Trần Văn H có trách nhiệm tiếp tục bồi thường thiệt hại giá trị tài sản mất trộm không thu hồi được cho người bị hại Nguyễn Tấn D, Huỳnh Thị Thùy D1 số tiền là: 44.765.000đồng.
- + Chấp nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Trần Văn H với người bị hại Phan Văn S, Nguyễn Thị Dạ L1. Theo đó bị cáo Trần Văn H có trách nhiệm tiếp tục bồi thường thiệt hại giá trị tài sản mất trộm không thu hồi được cho người bị hại Phan Văn S, Nguyễn Thị Dạ L1 số tiền là: 143.507.000 đồng (do trị giá tài sản bị mất trộm là 193.735.000đồng – 12.900.000đồng bị cáo Trần Văn H đã tự nguyện bồi thường – 37.328.000đồng giá trị tài sản trộm đã thu hồi được = 143.507.000đồng).
- + Trả lại bị cáo Trần Văn H sử dụng: 01 áo sơ mi dài tay sọc caro, màu xanh đen trắng; 01 cái nón kết màu đen, nhãn hiệu ADIDAS; 01 nón bảo hiểm màu đỏ, có kết màu đen, có in dòng chữ “Cửa hàng xe gắn máy Thanh Phong” (không liên quan đến vụ án).
- + Trả lại cho người liên quan Bùi Thị Cẩm L (vợ bị cáo Trần Văn H) sử dụng: 01 chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 59P2-267.97, số khung 5803EY818013, số máy JF58E0818044, nhãn hiệu HONDA, số loại Vision, màu sơn đen và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 097568 của xe mô tô 59P2-267.97 mang tên Nguyễn Văn T1 (bản gốc).
- + Tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 3 Pro, màu đen (thuộc sở hữu của bị cáo Trần Văn H không liên quan đến vụ án).
- + Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 quần jean ngắn màu xám; 01 cây kiềm bằng kim loại, có cán bằng nhựa màu xanh xám, nhãn hiệu Berry Lion, tổng chiều dài 18cm (mũi kiềm nhọn, dài 2,5cm), (bị cáo Trần Văn H sử dụng vào việc phạm tội).
- + Trả lại người bị hại Nguyễn Thị Dạ L1, Phan Văn S sử dụng số tài sản mất trộm đã thu hồi được: 01 cái đồng hồ, nhãn hiệu ANNE KLEIN; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppp A03S, màu xanh; 01 (một) thẻ sim điện thoại Vietel.
- + Trả lại người bị hại Nguyễn Thị Dạ L1, Phan Văn S sử dụng số tài sản mất trộm đã thu hồi được: 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, có chiều dài 41cm; 01 chiếc lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng, có chiều dài 16cm; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng, kiểu dây ép, có chiều dài 44 cm; 01 đôi bông tai bằng kim loại màu hồng, kiểu bị châu; 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng, có gắn hột đá màu trắng; Tiền Việt Nam: 12.900.000đồng (bị cáo Trần Văn H tự nguyện khắc phục).
(Vật chứng và tài sản trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý)
(Các tài sản này được niêm phong trong phong bì được dán giấy niêm phong ghi Niêm phong số 312 ngày 20/3/2024, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K1 Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Bé N1 và Nguyễn Thành N2 (được gửi tại Kho bạc nhà nước huyện H, tỉnh Đồng Tháp theo biên bản giao nhận ngày 28/3/2024 là 01 hộp kim loại màu đỏ nguyên niêm phong, dán giấy niêm phong có chữ ký, ghi họ và tên Nguyễn Văn B1, Lâm Thị Trinh N3, Trần Văn H, Lâm Thanh M1 và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện H).
4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Trần Văn H, phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn H; Người bị hại Nguyễn Tấn D, Phan Văn S, Nguyễn Thị Dạ L1; Người liên quan Bùi Thị Cẩm L có mặt tại phiên tòa được quy ền khá ng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (17/6/2024). Đối những người bị hại Huỳnh Thị Thùy D1; Người liên quan Huỳnh Thái T, Hồ Như H3, Võ Hữu K, Nguyễn Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định.
6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Đồng Tháp;
- - VKSND huyện Hồng Ngự;
- - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- - Chi cục THADS huyện Hồng Ngự;
- - Cơ quan điều tra H-Hồng Ngự;
- - Cơ quan thi hành án hình sự H-Hồng Ngự
- - UBND xã Long Khánh A, Hồng Ngự, ĐT;
- - UBND TTr.Thường Thới Tiền, HN,ĐT;
- - Những người tham gia tố tụng;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHIÊN TÒA |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Quốc Sách |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA
N4
Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 27/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H, phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H: 08(Tám) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 23/01/2024.
