Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯƠNG SƠN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 27/2024/HS-ST

Ngày 16 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải; ông Cù Xuân Phú.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2024/TLST-HS ngày 16/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 06/5/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn S, sinh ngày 05/7/1995 tại xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn S1, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị C (đã chết); vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/8/2015 bị Công an huyện V, tỉnh Hà Tĩnh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 63/QĐ-XPVPHC, ngày 04/4/2018 bị Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000đ về hành vi đánh bạc theo Quyết định số 05/QĐ-XPVPHC, đã chấp hành xong ngày 06/4/2018; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an H1; có mặt.

Người chứng kiến: Ông Nguyễn Đức N, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bằng các biện pháp nghiệp vụ, ngày 24/01/2024 Công an huyện H và Công an xã S, huyện H xác định Phạm Văn S, sinh năm 1995, trú tại thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vào khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, các lực lượng chức năng đến nhà S để kiểm tra, ngay khi thấy lực lượng Công an, S liền vút một túi nilon trong suốt từ tay phải xuống trước cổng nhà rồi bỏ chạy nên tổ công tác đuổi theo giữ lại và yêu cầu S nhặt túi nilon trong suốt mà S vừa vứt xuống để kiểm tra, qua kiểm tra phát hiện bên trong đựng 04 viên nén màu hồng. Phạm Văn S khai nhận các viên nén màu hồng là ma túy, loại H phiến mà S mua về để sử dụng. Tiếp trục kiểm tra trên người Phạm Văn S tổ công tác không phát hiện, thu giữ gì thêm. Xét hành vi của Phạm Văn S là vi phạm pháp luật nên tổ công tác đưa S cùng tang vật có liên quan về trụ sở Công an xã S lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.

Quá trình đấu tranh, Phạm Văn S khai nhận: Do bản thân là người sử dụng ma túy, nên khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 24/01/2024, S đi bộ từ nhà đến khu vực cầu T thuộc địa phận thôn C, xã S, huyện H rồi xin đi nhờ xe của mộ nam thanh niên (Sanh không quen biết nhân thân, lai lịch của thanh niên này). Khi đi đến khu vực trường Trung học phổ thông H2, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh thì S xuống xe. Lúc này, S gặp một nam thanh niên tên G (nhưng không biết rõ nhân thân, lai lịch), biết G có H để phiến bán nên S hỏi mua 300.000₫ ma túy loại Hồng phiến, G đồng ý. Sau khi cầm tiền, G nói với S đứng chờ và đi đâu không rõ. Khoảng 10 phút sau, G quay trở lại và vứt xuống 01 túi nilon trong suốt, bên trong có chứa 04 viên ma túy loại H phiến rồi quay đi. S nhặt lấy túi nilon chứa Hồng phiến, cầm ở tay phải và xin đi nhờ xe một người đi đường về khu vực cầu T, rồi đi bộ về nhà. Khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, khi S đang cầm số H phiến vừa mua, đứng ở góc sân nhà thì thấy lực lượng Công an đến nên S liền vứt túi nilon chứa 04 viên ma túy, loại H phiến xuống đường và bỏ chạy. Ngay lúc đó lực lượng Công an truy đuổi, bắt giữ và yêu cầu S nhặt túi nilon vừa vứt trước đó lên để kiểm tra, thì phát hiện bên trong có 04 viên Hồng phiến. Lực lượng chức năng tiếp tục kiểm tra trên người của S thì không phát hiện gì thêm.

- Tại Bản kết luận giám định số 314/KL-KTHS ngày 30/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh H1, kết luận: 04 viên nén màu hồng, đựng trong túi nilon trong suốt gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4437gam.

- Vật chứng thu giữ: 0,4437gam Methamphetamine, sau khi lẫy mẫu giám định còn 0,2247gam; cùng toàn bộ vỏ bao gói được cho vào 01 phong bì thư màu trắng, được dán kín, trên mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đối tượng Phạm Văn S. Toàn bộ số vật chứng đã được Cơ quan điều tra chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Sơn cất giữ để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại cáo trạng số 30/CT-VKS-HS ngày 15/4/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Phạm Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù; đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Bị cáo đã thừa nhận về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình. Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát và bị cáo không kêu oan, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn S tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đổi chiếu lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được xem xét công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào 14 giờ 45 phút ngày 24/01/2024, tại thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, Phạm Văn S đã bị Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với Công an xã S, huyện H phát hiện và bắt giữ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Với trọng lượng ma túy bị cáo tàng trữ 0,4437gam là Methamphetamine thì hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

  3. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống. Do đó cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

  4. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Bị cáo là người đã từng 01 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và 01 lần bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, nhưng

  5. không lấy đó làm bài học cho bản thân để thay đổi và chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, mà lại có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

  6. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng một số hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo Phạm Văn S không có nghề nghiệp ổn định, do đó cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo là phù hợp và có căn cứ.

  7. Về xử lý vật chứng: Số Methamphetamine là vật cấm lưu hành; còn toàn bộ vỏ bao gói là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  8. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về điều luật áp dụng; tội danh truy tố; mức hình phạt; xử lý vật chứng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

  9. Về các nội dung khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho S, nhưng do S không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.

  10. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 0,2247gam Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói được cho vào 01 phong bì thư màu trắng, được dán kín, trên mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phng và bị cáo Phạm Văn S.

    (Tình trạng, đặc điểm theo biên bản giao nhân vật chứng ngày 15/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Hà Tĩnh).

  4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Hương Sơn;
  • - CA huyện Hương Sơn;
  • - THADS huyện Hương Sơn;
  • - THA hình sự;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Lưu: HSVA; VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Mai Văn Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger