TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2024/HS-ST Ngày: 15-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hồ Thị Huyền.
- Bà Hoàng Hương Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:
- H và tên: Nguyễn Cảnh S (tên gọi khác: không); sinh năm 1987 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Thợ điện nước; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Cảnh N và bà: Lê Thị B; vợ: Lê Thị H1 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 03/01/2024 đến ngày 12/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Nguyễn Cảnh V (tên gọi khác: không); sinh năm 1988 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Cảnh Q (chết) và bà: Lê Thị T; vợ: Nguyễn Thị T1 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 03/01/2024 đến ngày 12/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Nguyễn Đình S1 (tên gọi khác: không); sinh năm 1987 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đình K (chết) và bà: Lê Thị N1; vợ: Lê Thị M và 03 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 03/01/2024 đến ngày 12/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- H và tên: Nguyễn Đình N2 (tên gọi khác: không); sinh năm 1986 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đình L và bà: Nguyễn Thị M1; vợ: Hồ Thị T2 và 04 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 03/01/2024 đến ngày 12/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- H và tên: Đậu Đức H2 (tên gọi khác: không); sinh năm 1984 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn I, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Thợ mộc; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đậu Đức T3 và bà: Nguyễn Thị P; vợ: Lê Thị N3 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 03/01/2024 đến ngày 12/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- H và tên: Hồ Trọng K1 (tên gọi khác: không); sinh năm 1983 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Thợ mộc; trình độ học vấn: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hồ Trọng D và bà: Nguyễn Thị H3; vợ: Nguyễn Thị M2 và 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 03/01/2024 đến ngày 12/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Hồ Sĩ H4 (tên gọi khác: không); sinh năm 1979 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hồ Sỹ N4 và bà: Nguyễn Thị T4; vợ: Hồ Thị H5 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 03/01/2024 đến ngày 12/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- H và tên: Nguyễn Duy D1 (tên gọi khác: không); sinh năm 1986 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Thợ mộc; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Duy D2 và bà: Vũ Thị S2; vợ: Dương Thị T5 và 04 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 03/01/2024 đến ngày 12/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 02/01/2024, Nguyễn Duy D1 tổ chức ăn liên hoan nhận phường tại nhà ở thôn E, xã Q, huyện Q cùng với Nguyễn Cảnh V, Đậu Đức H2, Hồ Trọng K1, Nguyễn Đình N2, Nguyễn Cảnh S và Nguyễn Đình S1. Sau đó, có người hỏi bộ bài đâu rồi đưa để chơi nào, D1 lấy bài để trên bàn ở nhà bếp đưa đến chiếu cạnh Nguyễn Cảnh S đang ngồi. Đến 21h cùng ngày Nguyễn Cảnh S, Nguyễn Đình S1, Nguyễn Cảnh V, Nguyễn Đình N2 rủ nhau đánh bài Ba cây. Sau đó, lần lượt Đậu Đức H2 và Hồ Trọng K1, Hồ Sĩ H4 đến tham gia đánh bạc. Mọi người sử dụng 01 (một) bộ bài tú lơ khơ đã bỏ các quân bài 10, J, Q, K còn lại 36 (ba sáu) quân. Đặt cược mỗi ván từ 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) đến 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Mỗi ván, mỗi người chơi sẽ được chia 3 quân bài. Để tính thắng thua, quy định cao nhất là “Sáp” (ba quân bài giống nhau), rồi đến “Liêng” (ba quân liên tiếp nhau, liêng nhỏ nhất là A, 2, 3 và liêng cao nhất là Q, K, A), cuối cùng tính tổng điểm của 3 quân bài theo thang điểm 9. Khi mọi người đang đánh bạc thì bị tổ công tác Công an xã Q phát hiện, lập biên bản sự việc, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 320.000đ (ba trăm hai mươi nghìn đồng), 36 (ba sáu) quân bài tú lơ khơ, thu giữ trong người Hồ Trọng Khoa số tiền 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng), Hồ Sĩ H4 70.000đ (bảy mươi nghìn đồng). Nguyễn Đình N2, Nguyễn Cảnh S, Nguyễn Đình S1 bỏ trốn đến ngày 03/01/2024 đến Công an xã Q đầu thú, Cảnh S giao nộp số tiền 3.400.000đ (ba triệu bốn trăm nghìn đồng), Đình S1 giao nộp 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), N2 giao nộp 800.000đ (tám trăm nghìn đồng).
Quá trình điều tra, xác định số tiền được sử dụng vào việc đánh bạc 6.890.000₫ (sáu triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng).
Bản cáo trạng số 35/CT-VKS-QL ngày 27/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố Nguyễn Cảnh S, Nguyễn Đình S1, Nguyễn Cảnh V, Nguyễn Đình N2, Đậu Đức H2, Hồ Trọng K1, Nguyễn Duy D1 và Hồ Sĩ H4 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Đình N2, Nguyễn Cảnh S, Nguyễn Đình S1 và Nguyễn Cảnh V từ 12 - 15 tháng Cải tạo không giam giữ.
Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự; xử phạt các bị cáo Đậu Đức H2, Hồ Trọng K1 và Hồ Sĩ H4 từ 12-15 tháng Cải tạo không giam giữ.
Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự; xử phạt phạt tiền bị cáo Nguyễn Duy D1 từ 22.000.000 đồng - 25.000.000 đồng.
Không khấu trừ thu nhập.
Hình phạt bổ sung: không áp dụng.
Biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, sung ngân sách nhà nước số tiền 6.890.000₫ (sáu triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng). Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bộ bài tú lơ khơ có 36 (ba sáu) quân bài.
Án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Không tranh luận gì về tội danh và mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị. Lời nói sau cùng: đều xin giảm nhẹ hình phạt, được ở nhà để nuôi dạy con cái.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Cảnh S, Nguyễn Đình S1, Nguyễn Cảnh V, Nguyễn Đình N2, Đậu Đức H2, Hồ Trọng K1, Nguyễn Duy D1 và Hồ Sĩ H4 khai nhận: trong khoảng thời gian từ 21h đến 21h30 phút ngày 02/01/2024 tại nhà Nguyễn Duy D1 (thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An), các bị cáo đã sử dụng 36 (ba sáu) quân bài tú lơ khơ và số tiền 6.890.000₫ (sáu triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng) để đánh bài Ba cây thì bị tổ công tác Công an xã Q lập biên bản sự việc. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Bị cáo Nguyễn Duy D1 không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng sử dụng nhà mình quản lý cho các bị cáo khác đánh bạc. Các bị cáo không được nhà nước cho phép, có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền, nhận thức được hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự. Thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Như vậy hành vi của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, đồng phạm giản đơn. Bị cáo Nguyễn Cảnh S sử dụng số tiền đánh bạc nhiều nhất nên hình phạt phải cao hơn các bị cáo còn lại. Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, đều có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo Nguyễn Đình N2, Nguyễn Cảnh S, Nguyễn Đình S1 đầu thú. Mẹ đẻ Nguyễn Cảnh V (bà Lê Thị T) là thanh niên xung phong được hưởng chính sách như Thương binh. Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, việc được ở ngoài xã hội không gây nguy hiểm hay ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, không cần thiết phải cách ly mà giao cho chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích. Xử phạt cải tạo không giam giữ và khấu trừ một phần thu nhập của các bị cáo là phù hợp.
[4] Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Các bị cáo đã bị khấu trừ thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[5] Biện pháp tư pháp: số tiền 6.890.000₫ (sáu triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng) các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước. 01 (một) bộ bài tú lơ khơ có 36 (ba sáu) quân bài các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, tịch thu, tiêu hủy.
[6] Về những vấn đề khác: Chị Dương Thị T5 (vợ Nguyễn Duy D1) không biết việc các bị cáo đánh bạc tại nhà mình, chị Hồ Thị T2 không biết số tiền 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) Nguyễn Đình N2 đưa cho là tiền dùng đánh bạc, nên không bị xử lý là đúng quy định pháp luật.
[7] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh S 15 (mười lăm) tháng Cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ 09 (chín) ngày tạm giữ bằng 27 (hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ, còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Về tội “Đánh bạc”.
Xử phạt các bị cáo Nguyễn Đình S1, Nguyễn Đình N2, Nguyễn Cảnh V, mỗi bị cáo 12 (mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ 09 (chín) ngày tạm giữ bằng 27 (hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ, còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Về tội “Đánh bạc”.
Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự; xử phạt các bị cáo Đậu Đức H2, Hồ Trọng K1, Hồ Sĩ H4, Nguyễn Duy D1, mỗi bị cáo 12 (mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ 09 (chín) ngày tạm giữ bằng 27 (hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ, còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Về tội “Đánh bạc”.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Q nhận được Quyết định thi hành án.
Giao các bị cáo Nguyễn Cảnh S, Nguyễn Đình S1, Nguyễn Cảnh V, Nguyễn Đình N2, Đậu Đức H2, Hồ Trọng K1, Nguyễn Duy D1 và Hồ Sĩ H4 cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án Cải tạo không giam giữ.
Khấu trừ thu nhập của các bị cáo Nguyễn Cảnh S, Nguyễn Đình S1, Nguyễn Cảnh V, Nguyễn Đình N2, Đậu Đức H2, Hồ Trọng K1, Nguyễn Duy D1 và Hồ Sĩ H4, mỗi bị cáo số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng)/tháng trong thời gian chấp hành án Cải tạo không giam giữ.
- Biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 36 (ba mươi sáu) quân bài tú lơ khơ màu xanh (tình trạng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/3/2024 giữa Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu). Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước số tiền 6.890.000đ (sáu triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng) hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.1047949.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu tại K huyện Q theo Giấy nộp tiền ngày 28/3/2024.
- Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc các bị cáo Nguyễn Cảnh S, Nguyễn Đình S1, Nguyễn Cảnh V, Nguyễn Đình N2, Đậu Đức H2, Hồ Trọng K1, Nguyễn Duy D1 và Hồ Sĩ H4, mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hải Yến |
Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 27/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Cảnh V và đồng phạm phạm tội Đánh bạc
